Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

00:36 ICT Thứ bảy, 16/11/2019
  • Nhà sách nhận in ấn tất cả các kinh sách của Phật Giáo và tượng Phật gửi đi tất cả các tỉnh thành đến tận nhà hoặc chùa. A Di Đà Phật!
     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

kim cang tam muội kinh

Mã sản phẩm: S0059 - 10031 Lượt xem
Ở trong kinh Kim cang tam muội, giáo lý hàm chứa đầy đủ cả bản giác và thỉ giác, quả vị hàm chứa đầy đủ cả Tam hiền, Thập thánh và quả vị cao nhất là Nhất vị, hay Phật vị, ấy là quả vị Vô thượng bồ đề.
Dịch giả : Thích Thái Hòa
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2013
Số trang : 279
Chia sẻ :

Kinh Bản Và Huyền Thoại

Theo Viên Trừng – Trạm Nhiên (1561- 1626), ở trong Kim cang tam muội kinh chú giải tự, thì Đức Phật nói kinh nầy sau Bát nhã và trước Pháp hoa. Ông ta lập luận rằng: Đức Phật nói Nhất thừa ở trong Bát nhã là thời kỳ thính chúng đang còn trình độ tu học ở ngoại vi, nhưng đến khi Đức Phật nói kinh nầy, thì thính chúng nghe được giáo pháp chân thực và đều tùy thuận Nhất thừa. Ông đã dẫn chứng thi kệ của kinh nầy, do Tỷ kheo A già đà bạch rằng: “Đương vị nhập thực thuyết, tùy thuận giai Nhất thừa,… Nghĩa là: Sẽ nói vào chân thực, đều tùy thuận Nhất thừa,…”. Ông lại dẫn tiếp: “Nhất vị chi pháp nhuận, phổ sung ư nhất thiết,… Nghĩa là: Thấm nhuần một pháp vị, tất cả đều sung mãn,…” (Đại chính 9, tr 366a23-26).
Vì vậy, ông kết luận, kinh nầy Đức Phật giảng dạy cho đại chúng sau thời kỳ Bát nhã. Và Viên Trừng – Trạm Nhiên lai nói: Kinh nầy, tuy chỉ thị Nhất thừa, nhất pháp, nhất vũ, nhất vị, nhưng chưa thọ ký trực tiếp tên, hiệu, cõi nước cho những vị đương cơ, vì vậy mà biết rằng, kinh nầy Đức Phật, giảng dạy cho đại chúng trước thời kỳ Pháp hoa. (Viên Trừng, Kim cang tam muội chú giải tự, Tục Tạng kinh 35, tr. 0219b22-c5).
Nếu theo luận chứng của Viên Trừng – Trạm Nhiên và lại căn cứ vào năm thời kỳ giảng dạy giáo pháp của Đức Phật do Trí Khải (538 – 597), Tổ sư của Thiên Thai Tông Trung Hoa phán định, thì Đức Phật giảng kinh Kim cang tam muội nầy khoảng năm 42, sau khi Ngài thành đạo.
Nhưng, theo Nhân Sơn - Tịch Chấn, đời Thanh (1644 – 1912), ở trong phần Huyền đàm, mục Giáo Tích Tiền Hậu, của Kim cang tam muội kinh thông ký, đã đưa ra nhiều luận chứng, để chứng minh rằng, kinh Kim cang tam muội được Đức Phật giảng dạy, sau kinh Pháp Hoa và trước kinh Niết Bàn, nghĩa là trước khi đức Phật nhập Niết bàn khoảng ba tháng. (Huyền Đàm - Giáo Tích Tiền Hậu - Kim cang tam muộiKinh Thông Ký, Tục Tạng Kinh 35, tr 257c17 – 258c02).
Như vậy, theo Nhân Sơn - Tịch Chấn, Đức Phật giảng kinh nầy, vào khoảng Ngài gần cuối năm 79 tuổi.
Kinh Kim cang tam muội, được dịch sang Hán vào thời Bắc lương (397- 439), hiện có ở trong Đại Chính Tân Tu, số ký hiệu 273, cuốn 9, từ trang 365 đến 374. Mất tên người dịch.
Ta đọc Xuất tam tạng ký tập 3, do Tăng Hựu (445-518), soạn dựa vào bản Lương thổ dị kinh lục của Thích Đạo An (312- 385), có ghi tên của kinh nầy. (Đại Chính 2145. 55. 18c6).
Pháp Kinh viết Chúng kinh mục lục vào năm 594, cũng có ghi Kinh Kim cang tam muội vào mục lục, loại đơn bản thất dịch (Đại chính 2146. 55. 121a14).
Năm 597, Phí Trường Phòng viết Lịch đại Tam bảo kỷ, cũng có ghi tên kinh nầy. (Đại chính 2034. 49. 85a18). Và trong Chúng kinh mục lục của Ngạn Tông cũng ghi kinh nầy vào loại khuyết bản (Đại chính 2147. 55. 176b28).
Trong Chúng kinh mục lục của Tĩnh Thái viết năm 666, ghi kinh nầy khuyết bản (Đại chính 2148. 55. 214a29).
Đạo Tuyên viết Đại đường nội điển lục, năm 664 cũng chép theo cách của Xuất tam tạng ký tập (Đại chính 2149. 55 .256c4). Trong Dịch kinh cổ kim đồ kỷ (Đại chính 2151. 55. 361a24), do Tĩnh Mại viết cũng giống Đạo Tuyên.
Năm 695, Minh Thuyên thiết lập Đại Chu san định chúng kinh mục lục, xếp kinh Kim cang tam muội vào loại thất dịch và khuyết bản.
Đến năm 730, Trí Thăng viết Khai Nguyên thích giáo lục, ghi rằng kinh Kim cang tam muội hiện còn (Đại chính 2154.55.5522b14).
Bản dịch kinh Kim cang tam muội đến thời Trí Thăng vẫn còn là do lấy những thiên còn lại mà đưa vào Đại tạng (Khai Nguyên giáo lục 12, 19. Đại chính 2154. 55. 605b15, 667a22, 668c20).
Như vậy, theo các tư liệu ta thấy kinh Kim cang tam muội đã được dịch sáng Hán muộn lắm là vào thế kỷ thứ tư và đã được đưa vào Đại tạng kinh vào thế kỷ thứ tám.
Theo Nhân Sơn – Tịch Chấn, đời Thanh (1644 – 1912), trong phần Huyền Đàm, mục Phiên dịch thời đại của Kim cang tam muộikinh thông ký, sau khi đã đưa ra những luận chứng và ông đã đi đến kết luận rằng, kinh Kim cang tam muội do Pháp sư Đạo An (312 – 385) dịch. (Tục Tạng Kinh 35, tr 258c02 – 259a06).
Ngoài kinh Kim cang tam muội, ở trong Đại chính Tân tu, cuốn 34, ta còn thấy có Kim cang tam muộikinh luận của Nguyên Hiểu, với số ký hiệu 1730, từ trang 961a1 đến 1007c29.
Nguyên Hiểu là ai, mà đã viết sớ, luận về kinh nầy?
Theo Tống cao tăng truyện, do Tán Ninh (919-1001) viết thì: “Nguyên Hiểu họ Tiết, người Tương Châu, Đông Hải. Học đạo khi tuổi còn để chỏm. thường thích đi đó đây và tranh luận, không ai có thể vượt qua. Ông thông hiểu hết tam học. Sức học địch cả muôn người. Ông rất hâm mộ cửa trường của Ngài Huyền Trang, nhưng duyên không được. Ông bất mãn ăn chơi vô kể,… Hoặc viết sớ để giảng về Tạp Hoa, hoặc đánh đàn làm nhạc, ở các đền thờ, hoặc ở trọ làng xóm, hoặc thiền ở nơi núi sông, cuộc sống của ông phần nhiều theo tự ý, chứ không theo thời khóa nào cả.
Bấy giờ quốc vương đại hội một trăm tòa Kinh nhân vương, tìm khắp các bậc thạc đức. Châu ấy cho sư có danh tiếng bèn tiến cử lên. Các vị khác không thích nếp sống của sư, đề nghị vua đừng chấp nhận.
Chẳng bao lâu, phu nhân của vua não bị sưng vù lên, các danh y bó tay. Vua, vương tử, thần thuộc cầu đảo khắp chỗ sông núi hồn thiêng, nhưng không có hiệu quả. Có chiêm gia bảo rằng: “Nếu sai người đến nước khác kiếm thuốc thì bệnh mới lành”. Vua liền sai sứ lấy thuyền vượt biển vào Đường để tìm y thuật.
Trong lúc ở trên thuyền mơ màng, sứ giả liền thấy có một ông, do sóng đánh nhảy lên thuyền, mời sứ giả xuống biển xem cung điện trang nghiêm đẹp đẽ, liền gặp Long vương.
Long vương tên Khâm Hải, bảo với sứ giả rằng: “Phu nhân của vua nước ngươi là người con gái thứ ba của Thanh Đế. Trong cung ta trước có kinh Kim cang tam muội, đó là hai giác viên thông, trình bày hạnh bồ tát. Nay, nhờ bệnh của phu nhân làm tăng thượng duyên, muốn gởi kinh nầy ra nước kia để lưu bố”. Nói rồi, Long vương đem đến ba mươi tờ, xếp chồng rời rạc, giao cho sứ giả.
Lại còn nói: “Kinh nầy khi đem vượt biển sợ quỷ”. Long vương sai cầm dao rạch đùi của sứ giả nhét vào trong, dùng giấy sáp cuốn buộc lại để làm thuốc rịt bắp đùi lại như cũ.
Long vương dặn khi về đến, có thể nhờ Thánh giả Đại An xếp thứ tự đóng lại, rồi mời pháp sư Nguyên Hiểu viết sớ mà giảng, thì bệnh của phu nhân sẽ lành, không có gì để nghi ngờ. Giả như có thuốc A-da-đà hiệu lực cũng không hơn được”.
Dặn xong, Long vương đưa họ ra khỏi Long cung, lên mặt biển trở về nước.
Bấy giờ sứ giả về kể lại, nhà vua nghe câu chuyện rất hoan hỷ. Cho người tìm mời Thánh giả Đại An đến để xếp đặt thứ tự của kinh.
Không ai có thể biết nguồn gốc của Đại An, hình dáng và phục sức của ông hết sức kỳ lạ. Chỗ của ông thường ở nơi chợ búa, thường đánh chén đồng mà hát ca lên tiếng “Đại an, đại an”, vì vậy mà ông có hiệu ấy.
Vua cho sứ mời ông vào cung, ông nói: “Hãy đem kinh đến đây, tôi không muốn vào nước có cung vua”.
Ông được kinh, liền xếp thành tám phẩm, đều hợp với ý Phật. Ông nói: Đem mau cho Nguyên Hiểu giảng, còn người khác thì không được.
Nguyên Hiểu nhận kinh nầy, chính tại quê mình là Tương Châu, liền bảo sứ giả rằng: Kinh này lấy hai giác là bản giác và thỉ giác làm chủ trương, hãy vì ta mà chuẩn bị xe trâu một sừng, đem bàn đặt giữa hai sừng để bút nghiên lên. Trước sau trên xe trâu, liền viết sớ thành năm cuốn. Ngay ngày đó, vua mời Nguyên Hiểu giảng ở chùa Hoằng Long.
Bấy giờ, có một người xấu trộm mất bản sớ mới làm, liền đem việc ấy trình vua, vua cho trễ ba ngày, nên chép lại thành ba cuốn, gọi là lược sớ.
Đúng lúc vua, quan, đạo tục, nhóm đầy cả pháp đường, Nguyên Hiểu bước lên pháp tòa, tuyên giảng đúng cách, giải nghĩa có thể lặp lại rõ ràng. Tiếng ca ngợi vang dậy trời đất. Nguyên Hiểu nói: “Ngày xưa, tuy chọn trăm cột, tôi không dự vào, nay đặt một đòn dông, thì tôi lại có thể”. Bấy giờ, những bậc danh đức khiêm mình, tự sám hối.
Ngày xưa, Nguyên Hiểu bày tích mất bình thường, dạy người không nhất định, có khi liệng mâm mà cứu người, phun nước mà dẹp cháy, tàng hình ấn hiện nhiều chỗ, hoặc có khi ở trong sáu phương giả chết, cũng là dòng họ của Bôi Độ, Chí Công.
Còn việc ông giải thích tánh nghĩa, xem vào không chỗ nào là không rõ. Sớ có hai bản quảng và lược, đều lưu hành ở nước ấy (Triều Tiên). Bản lược lưu nhập vào Trung Hoa, sau có phiên kinh tam tạng cải làm luận”(Tống cao tăng truyện 4, Đại chính 2061.50. 730a6-b29).
Đọc Tống cao tăng truyện của Tán Ninh viết vào khoảng giữa những năm 982-988, ta thấy được những gì giữa kinh Kim cang tam muội và Nguyên Hiểu?
Trước hết, Tống cao tăng truyện cho ta biết rằng, bản kinh Kim cang tam muội do Nguyên Hiểu sớ luận là một bản kinh được tàng trữ từ Long cung và sắp xếp thứ tự tám chương như đang có hiện nay là do Thánh giả Đại An. Và Tống cao tăng truyện cũng cho ta biết rằng, Đại An và Nguyên Hiểu xuất hiện cùng thời với Ngài Huyền Trang mở trường dịch kinh vào đời Đường, ở thế kỷ thứ bảy.
Tuy nhiên, Tán Ninh ở Tống cao tăng truyện cũng không cho ta biết thêm gì về kinh Kim cang tam muội do Long vương Khâm Hải trao cho sứ thần của vua Tân La (Triều Tiên) là bằng văn bản Phạn hay Hán hoặc bằng ngôn ngữ của Tân La? Và nếu là bản Hán thì do ai dịch và vì lý do gì không lưu thông mà phải tàng trữ tại Long cung cho đến khi gặp sứ thần của nước Tân La mới trao mà còn sợ đi đường bị việc quỉ chiếm đoạt?
Lại nữa, Tống cao tăng truyện cũng cho ta biết giữa Thánh giả Đại An và Pháp sư Nguyên Hiểu có liên hệ chặc chẽ với bản kinh Kim cang tam muội về sư sắp xếp và chú giải qua lời giới thiệu của Long vương Khấm Hải từ Long cung.
Không những vậy, kinh Kim cang tam muội còn là pháp dược chữa lành cơn bệnh hiểm nghèo u não của phu nhân vua Tân La bấy giờ, chỉ đơn giản do Thánh giả Đại An sắp xếp lại nội dung bố cục của kinh và Pháp sư Nguyên Hiểu viết sớ giảng giải, lưu bố kinh nầy là bệnh kia lành.
Tống cao tăng truyện nói rằng, việc sắp xếp nội dung kinh Kim cang tam muội của Thánh giả Đại An rất hợp với ý của Phật. Còn Nguyên Hiểu khi nhận kinh nầy để sớ giảng ông liền buộc miệng nói: “Kinh nầy lấy hai giác là bản giác và thỉ giác làm chủ trương, thì hãy vì ta mà chuẩn bị cổ xe một sừng và hãy đem bàn đặt giữa hai sừng để bút nghiên lên”.
Những thông tin về Thánh giả Đại An và Nguyên Hiểu với kinh Kim cang tam muội của Tống cao tăng truyện, đã giúp cho ta biết thêm về túc duyên đối với phật pháp của hai vị nầy và nhất là đối với kinh Kim cang tam muội. Và biết đâu Nguyên Hiểu là hóa thân của Vô trú Bồ tát ở trong phẩm Bản Giác Lợi và Thánh giả Đại An là hóa thân của Đại lực Bồ tát ở trong phẩm Nhập Thực Tế của kinh Kim cang tam muội nầy, và chỉ có thể như thế mới có thể trả lời được câu hỏi, tại sao khi trao kinh Kim cang tam muội nầy, Long vương Khâm Hải ở Long cung lại giới thiệu cho sứ thần của vua nước Tân La (Triều Tiên), khi về nước phải tìm gặp hai vị nầy để yêu cầu sắp xếp nội dung của kinh và sớ giải, mà không thể giao cho ai khác?

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Avata
- Ngày:
A Di Đà Phật . e muốn thỉnh kinh kim cang tam muội cho hỏi giá bao nhiêu ạ

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại