Xem bản: desktop Desktop | mobile Mobile
Nhà sách duy nhất về Phật giáo nằm tại trung Tâm Hà Nội

19:34 EDT Thứ hai, 16/07/2018
  • A Di Đà Phật! Nhân dịp Lễ Phật Đản Sinh nhà sách Tịnh Liên chuyển tượng miễn phí vận chuyển đi khắp các tỉnh thành trong cả nước đến hết tháng 4 âm lịch. Nam Mô A Di Đà Phật!

     

Hỗ trợ liên hệ

Nhà sách phật giáo Tịnh Liên
  • address 187 Bà Triệu - Hà Nội
  • phone Gmail: nhasachtinhlien187
  • phone Điện thoại: 043 974 8417
  • phone Di động: 094 278 3333

Tìm kiếm sách

Từ khóa
Giá từ
Đến

Trên Google+

Trên Facebook

Tam Thiên Oai Nghi-Hành Hộ Luật Nghi

Mã sản phẩm: S0101 - 4170 Lượt xem
Bộ luật Tam Thiên Oai Nghi và Hành Hộ Luật Nghi
Dịch giả : Thích Nguyên Chơn
Nhà xuất bản : Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm xuất bản : 2014
Số trang : 108
Chia sẻ :

ĐẠI TÌ-KHEO TAM THIÊN OAI NGHI


Đệ tử Phật có hai thành phần là tại gia và xuất gia. Tại gia thì đầu tiên thụ năm giới để làm nền tảng ngăn ba đường ác, cầu phước cõi trời và cõi người. Vì chưa thể vĩnh viễn xa lìa những duyên trần gia đình quyến thuộc, nên thụ thêm ba giới cộng với năm giới trên trong một ngày một đêm để trồng nhân duyên vĩnh viễn xuất gia ở đời vị lai.

Hàng xuất gia, về hành nghiệp thì trước sau có ba bậc thượng, trung, hạ. Xuất gia bậc hạ thì trước tiên lấy mười giới làm căn bản, suốt đời thụ trì. Tuy bỏ nhân duyên gia đình, quyến thuộc, nhưng việc làm thì như người thế tục. Người xuất gia này, so với người đã thụ cụ túc giới thì vẫn là tại gia, nên gọi là xuất gia bậc hạ. Xuất gia bậc trung thì đã bỏ tất cả duyên vụ và công việc ở đời, lãnh thụ đủ tám vạn bốn nghìn nhân duyên hướng đến đạo. Tuy xả các duyên sự và việc làm thế gian, nhưng ba nghiệp thân miệng và ý chưa hoàn toàn thanh tịnh, kết sử trong tâm vẫn còn, chưa thể xa lìa, so với bậc trên thì chưa đủ, sánh với bậc dưới thì đã hơn, cho nên gọi là xuất gia bậc trung. Xuất gia bậc thượng, đó là những người có căn cơ nhanh mạnh và nhạy bén, đã xa lìa được kết sử trói buộc, được sức thiền định và trí tuệ; do được sức thiền định và trí tuệ nên tâm được giải thoát; vì tâm được giải thoát nên thanh tịnh ba nghiệp thân, miệng và ý, ra khỏi ngôi nhà phiền não duyên sự, vĩnh viễn ở trong ngôi nhà mát mẻ vắng lặng nên gọi là xuất gia bậc thượng.

Lại nữa, hàng xuất gia bậc trung sau khi thụ giới cụ túc, vẫn còn chưa biết hết tất cả oai nghi phép tắc của sa-môn, nên cần phải nương tựa một vị tôn túc trưởng lão có đức hạnh. Tôn giả Ưu-ba-li thưa Đức Phật: “Thành tựu được mấy pháp mới không còn nương tựa bậc tôn túc?”. Đức Phật đáp: “Phải thành tựu hai mươi lăm pháp thì mới không còn nương tựa”. Nói rộng thì hai mươi lăm pháp, nhưng nói gọn thì chỉ cần biết hai bộ giới[2] để làm căn bản. Ở đây chỉ nói thành tựu mười pháp mà thôi. Mười pháp:

1. Không thông thạo nghĩa chung và riêng của hai bộ giới. Đó là trong một thiên giới thì hoặc là đồng hoặc là khác; hoặc trong giới của Tăng thì nhẹ, trong giới của ni thì nặng; hoặc trong giới của ni thì nhẹ, trong giới của Tăng thì nặng; hoặc trong thiên trước thì có, thiên sau thì không, hoặc trong giới bản thì có, giới khác thì không; hoặc trong giới khác thì có mà giới bản thì không. Các bộ giới như thế không biết phân biệt, nên gọi là không thông thạo giới.

2. Không biết là tội hay không phải tội: Tức không biết đó là tội trong Phật pháp mà chẳng phải tội của thế gian, là tội của thế gian mà chẳng phải tội trong Phật pháp; hoặc chẳng biết đó là tội trong Phật pháp cũng là tội của thế gian; hoặc chẳng biết đó không phải là tội trong Phật pháp cũng chẳng phải tội của thế gian. Tội trong Phật pháp mà chẳng phải tội của thế gian đó là những hành vi cất chứa tiền bạc, lìa ba y sau khi Phật đã chế giới. Tội của thế gian mà chẳng phải tội trong Phật pháp, đó là các hành vi như sát sinh, trộm cắp trước khi Phật chế giới. Tội trong Phật pháp cũng là tội của thế gian, tức những hành vi như phạm các giới dâm, nói dối… sau khi Phật đã chế giới. Không phải tội trong Phật pháp cũng chẳng phải tội của thế gian, tức những hành vi chặt phá cỏ cây… trước khi Phật chế giới. Nếu tì-kheo ăn ban đêm, tì-kheo cùng ăn nên quán ba việc tạo nên thức ăn này. Nếu không quán mà vẫn dùng thức ăn này thì phạm tội. Nếu có người đáng tin cùng dùng thức ăn ban đêm thì không phạm tội. Không biết các việc như vậy gọi là không biết là tội hay chẳng phải tội.

3. Không biết nhẹ hay nặng: Không biết nhẹ, như sa-di vừa phạm giới dâm thì trong lòng vô cùng hổ thẹn phát thệ nguyện đến chết cũng không tái phạm, suốt đời luôn thay đổi nơi an trụ, không thụ nhận lời thỉnh thụ thực, cúi xin Tăng thương xót cho làm tì-kheo, suốt đời khuyên người làm phước. Người này hiện đời tuy không được mầm đạo, nhưng mai sau chỉ chịu tội nhẹ. Không biết phạm giới nặng mà chịu tội nhẹ gọi là không biết nhẹ. Không biết nặng, như có tì-kheo vào thời Phật Ca-diếp vì bẻ phá lá cây, nên bị đọa vào loài rồng, đến hôm nay vẫn còn chịu tội báo. Chẳng biết phạm tội nhẹ mà chịu quả báo nặng, nên gọi là chẳng biết nặng.

4. Chẳng biết tội vô tàn[3] trong hữu tàn, tội hữu tàn trong vô tàn. Tội hữu tàn trong vô tàn: như trộm của người khác năm tiền, sau đó hối hận trả lại; như giết chiên-đà-la... ; do không biết việc này nên gọi là không biết tội hữu tàn trong vô tàn. Chẳng biết vô tàn trong hữu tàn: như trong ba mươi Xả đọa, nếu với tâm ý gần gũi mong cầu được ca-sa tốt đẹp, sau đó chủ của tấm ca-sa kia đòi lại, nếu không trả, mà giá trị tấm y nhiều hơn năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Không biết vô tàn trong hữu tàn: như vậy gọi là không biết vô tàn.

5. Không biết một lần chế định: Nghĩa là không biết có những giới điều trước sau hoàn toàn không khai cho, hoặc có những giới điều khi gặp một nhân duyên thì chỉ khai cho một lần.

6. Không biết hai lần chế định: Tức không biết có những giới điều hợp hai ba nhân duyên lại mới chế định ra một giới, hoặc có nhân duyên đưa đến hai lần khai hoặc sáu lần khai cho.

7. Không biết có giới điều chỉ chế định riêng cho từng vùng: Như tại nước Danh Tịnh không nên thụ thực. Ở những nơi thờ nước thì không được tắm giặt và đại tiểu tiện trong dòng sông, những nơi rét lạnh thì cho mặc áo nhiều lớp. Những nơi này làm thì không phạm, nhưng nơi khác thì phạm. Không biết như vậy, gọi là không biết chế định riêng.

8. Không biết có những giới điều chế chung cho tất cả: Như không biết sát sinh là việc mà tất cả các nơi Phật đều cấm.

9. Không biết yết-ma bố-tát: Bố-tát, Trung Quốc dịch là tịnh trụ, trưỡng dưỡng. Tì-kheo hòa hợp, nếu làm một trăm lẻ một yết-ma mà không biết hòa hợp thì gọi là không biết yết-ma.

10. Không biết yết-ma thỉnh tuế: Thỉnh tuế là xin người nêu ra lỗi của mình. Như thấy, nghe hay nghi ngờ người khác nói lỗi của mình, bấy giờ nếu có từ năm người trở lên, thì làm một trăm lẽ một yết-ma để rộng đường tự tứ. Bấy giờ Tăng cần phải sai hai người để tự tứ. Sở dĩ có hai người là bởi sau khi Tăng tự tứ xong, thì hai người này tự đối diện nhau để nêu ra tội; không được cầu người khác để tự tứ vì Tăng không sai. Nếu có ba bốn người thì ba lần nói tự tứ. Nếu chỉ một người thì tâm nghĩ miệng nói. Không biết điều này gọi là không biết yết-ma thỉnh tuế. Nếu một tì-kheo không biết mười việc nêu trên, thì dù đủ năm hạ hay nhiều hơn cũng phải nương tựa bậc tôn túc trưởng lão có đức. Nếu không nương tựa thì hàng ngày đều phạm tội Đột-cát-la. Nếu biết mười pháp trên, đã đủ năm hạ thì được lìa thầy nương tựa. Sau đó nên học phép tắc làm thầy, cho đến mười tuổi hạ mới được độ người. Nếu không biết năm pháp thì không được độ người. Năm pháp:

1. Tụng đọc làu thông giới luật của hai bộ Tăng-Ni.
2. Giải quyết được tâm nghi ngờ của đệ tử.
3. Đệ tử ở nơi xa, có khả năng bảo trở về.
4. Có khả năng phá dẹp tà kiến cho đệ tử và dạy bảo không cho tạo ác.
5. Nếu đệ tử có bệnh thì chăm sóc, chữa trị giống như cha mẹ nuôi con.

Xem qua một vài trang sách

Xin quý khách bấm vào hình ảnh thu nhỏ của trang sách muốn xem dưới đây để bật công cụ phóng to. Trên công cụ phóng to, rê chuột vào bên lề phải-lề trái để hiện các nút sang phải, sang trái. Nhấn vào các nút sang phải, sang trái để lật giở sách. Nhấn nút x để đóng

Độc giả bình luận về sách

Quý vị có thể bình luận hoặc nêu các câu hỏi đáp về sản phẩm dưới đây, chúng tôi sẽ trả lời cũng tại mục bình luận này

Avata
- Ngày:
Nhà sách cho đặt 10 quyển
Tên người nhận: Trần Thị Hồng Nhung
Địa chỉ: 374 Khu Vự Tân Qui - Phường Trường Lạc - Quận Ô Môn - Thành Phố Cần Thơ
ĐT: 0907038617

Số ký tự được gõ là 250

Đầu sách cùng loại