NIỀM TIN BẤT HOẠI ĐỐI VỚI TĂNG - THÍCH THÁI HÒA NIỀM TIN BẤT HOẠI ĐỐI VỚI TĂNG - THÍCH THÁI HÒA Tác Giả: Thích Thái Hòa
NXB: Hồng Đức
Số Trang: 292 Trang
Hình Thức: Bìa Cứng
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2017
Độ Dày: 2,7cm
NTBH HT THÍCH THÁI HÒA 120.000 đ Số lượng: 1000000 Quyển
  • NIỀM TIN BẤT HOẠI ĐỐI VỚI TĂNG - THÍCH THÁI HÒA

  •  255 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: NTBH
  • Giá bán: 120.000 đ

  • Tác Giả: Thích Thái Hòa
    NXB: Hồng Đức
    Số Trang: 292 Trang
    Hình Thức: Bìa Cứng
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2017
    Độ Dày: 2,7cm


Số lượng
Trích “Niềm Tin Bất Hoại Đối Với Tăng - Chương 1: Tổng Luận Về Tăng”:
I. Ý NGHĨA
Tăng hay Tăng già, Tăng đoàn, Hán chuyển âm từ ngữ Saṅgha của Pāli và Saṃgha của Phạn ngữ. Dịch là Hòa hợp chúng. Vì Saṅgha hoặc Saṃgha có tiền tố từ là Sam, có động từ gốc là Han. Nghĩa gốc của từ này là nối kết lại, làm cho chặt lại, gắn bó với nhau... Do đi từ ngữ gốc như vậy, nên các nhà Hán học dịch là “Hòa hợp chúng”, nghĩa là những người hòa hợp liên kết lại với nhau trong cùng một mục đích, trong cùng một lý tưởng.

Chữ Saṅgha, không phải có từ khi đức Phật thiết lập Tăng đoàn, mà trước đó đã có trong ngôn ngữ Ấn Độ. Tuy nhiên, khi chữ Saṅgha được đức Thế Tôn sử dụng để chỉ cho chúng xuất gia đệ tử của Ngài, ngoài những ý nghĩa căn bản ấy ra, nó còn hàm chứa một ý nghĩa đặc biệt và sâu sắc hơn nhiều. Saṅgha hay Tăng đoàn là những người sống với đời sống hòa hợp, để hỗ trợ cho nhau thực hiện đời sống giải thoát và giác ngộ. Chính sống bằng đời sống như vậy, họ có thể trở thành những mảnh đất trù phú để cho mọi người có thể gieo trồng hạt giống phước đức và làm nền tảng cho mọi đời sống phạm hạnh, tiến bộ tâm linh. Sau khi đức Thế Tôn thành đạo, Ngài đã để một thời gian an trú trong tịch tịnh và suy nghiệm về Chánh pháp do Ngài vừa chứng ngộ và kể cả cách suy nghiệm để chuyển vận Pháp Luân.



 
niềm tin bất hoại đối với tăng



Suy nghiệm xong, Thế Tôn đi đến Vườn Nai (Isipatana), hóa độ năm anh em ông Kiều-trần-như, năm vị này đã lãnh hội giáo pháp Trung Đạo, từ bỏ hai cực đoan và họ đã xác định đức Thế Tôn là Thầy của họ, họ đã tìm hiểu và thực hành Pháp Bát-thánh-đạo, chứng các Thánh Quả. Như vậy, tại Vườn Nai họ đã trở thành Tăng đoàn đầu tiên làm đệ tử của đức Thế Tôn. Chính những sự kiện của đức Thế Tôn thành đạo, Chuyển Pháp Luân Tứ-thánh-đế tại Vườn Nai, độ năm anh em Kiều-trần-như là những điều kiện tất yếu để Tam Bảo, tức là Phật-Pháp-Tăng xuất hiện một cách trọn vẹn trong cuộc đời, làm chỗ nương tựa cho chúng sanh tu học.

Trên đà phát triển của Phật giáo, Luật tạng ra đời và quy định Tăng là một đoàn thể tối thiểu là bốn vị đã thọ Tỷ khưu hoặc Tỷ khưu ni giới qua tác pháp Bạch-tứ yết-ma như pháp trở lên, sinh hoạt với nhau trong cùng một mục đích là giải thoát và giác ngộ. Tăng ở mặt triết lý, đó là bản thể thanh tịnh và thống hợp của tất cả chúng sanh. Hễ mỗi chúng sanh tự mình hóa giải bản ngã, để hòa nhập vào bản thể thanh tịnh của đại chúng thì tự thân của chúng sanh ấy là một thành viên của Tăng trong ý nghĩa triết lý.


II. LÝ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TĂNG
Ngoại trừ những kẻ sống mất hướng, hờ hững và buông xuôi còn lại thì bất cứ ai cũng có thể tự đặt cho mình một lý tưởng sống để hành động. Vậy lý tưởng và hành động của Tăng là gì? Phải trả lời một cách hiển nhiên rằng, đó là đời sống giải thoát và giác ngộ, hành động của Tăng phải là những hành động trong chiều hướng ấy. Bởi lý tưởng sống và hành động như vậy, nên đời sống của Tăng phải là đời sống làm lý tưởng và mẫu mực cho đời. Hành động của Tăng không phải là hành động của tập thể ích kỷ đầy tham vọng, mà là hành động của một tập thể đầy tình thương và vị tha dựa trên nền tảng giới luật do đức Thế Tôn chế định.

Hẳn nhiên, thành viên của Tăng phải là những người xuất gia thực hành đời sống giải thoát. Vì sao vậy? Vì không xuất gia thì không dễ gì thành tựu được lý tưởng giải thoát và đời sống phạm hạnh. Vậy, xuất gia có nghĩa là gì? Kinh Đại bản (Mahāpadana) nói: “Người xuất gia là người khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ gìn không hại chúng sanh, khéo có lòng từ đối với tất cả chúng sanh”. Trong Kinh Thánh cầu, đức Phật dạy: “Người xuất gia là người thấy rõ sự nguy hiểm của khổ hoạn sanh, già, bệnh, chết mà mong cầu sự thoát ly, để hướng đến đời sống an tịnh của Niết-bàn”.

Và để đạt được mục đích giải thoát của Niết-bàn, đức Phật đã dạy Saccaka rằng: “Đời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy bụi đời. Đời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không ràng buộc bởi gia đình”. Người xuất gia sống thoát ly gia đình, không bị ràng buộc bởi vợ con là để thuận tiện cho sự thực tập và thành tựu phạm hạnh. Và chỉ có từ bỏ gia đình, từ bỏ vợ con mới thành tựu được ý nghĩa người xuất gia. Như vậy, hành động của ngƣời xuất gia chính là hành động từ bỏ thế tục. Lại nữa, đời sống của ngƣời xuất gia còn gọi là đời sống viễn ly mọi ác nghiệp, thực hành mọi thiện pháp. Trong kinh Tăng Chi bộ, đức Thế Tôn dạy: Ở đời có bốn hạng người viễn ly:

- Thân viễn ly, tâm không viễn ly.
- Thân không viễn ly, tâm viễn ly.
- Thân không viễn ly, tâm không viễn ly.
- Thân viễn ly, tâm viễn ly.

Trong bốn hạng người viễn ly như vậy thì hạng người ly mọi tham dục, ly mọi sân hận, ly mọi si mê của thân và tâm là hạng người sống hạnh viễn ly có ý nghĩa toàn vẹn. Và chỉ có sự viễn ly như vậy, mới khẳng định được lý tưởng của ngƣời xuất gia và mới có thể khẳng định là thành viên xứng đáng của Tăng đoàn. Lý tưởng tối hậu của đời sống viễn ly là lý tưởng thành Phật và hóa độ chúng sanh. Trong Bồ tát Bản Sanh Man Luận nói: “Chư Phật trong ba đời, do tác nhân xuất gia mà thành tựu Đạo quả Giác ngộ”. Bằng lý tưởng ấy, người xuất gia ngoài tinh thần tự độ, còn thực hiện hành động độ tha nữa.


 
niềm tin bất hoại đối với tăng 1



Trong thời khóa tụng tu tập buổi chiều của các tự viện, tu viện, lý tưởng thành Phật để hóa độ chúng sanh, luôn luôn được nhắc nhở và sách tấn trong mọi hành động tu tập như sau: “Con nay phát tâm, không phải chỉ mong cầu cho chính mình những phước báo cõi trời, cõi người; không phải chỉ mong cầu cho chính mình những quả vị Thanh văn, Duyên giác, cho đến những quả vị của hàng Bồ tát Quyền thừa mà còn phát tâm Bồ đề, là chỉ y cứ vào Tối thượng thừa mà thôi. Nguyện cùng tất cả chúng sanh trong vũ trụ, đều cùng chứng quả Vô thượng Bồ đề”. Lý tưởng của đời sống viễn ly quá cao thượng như vậy, nhất định phải đòi hỏi những hành động rất là gan dạ, đó là hành động vị tha, vô ngã, một hành động tu tập và cứu khổ trong mọi ý niệm về ngã phải hoàn toàn vắng bặt. Nên thời tu tập buổi khuya của các Tự viện, Tu viện hành động hoàn toàn vô ngã được nêu lên một cách trang trọng như sau: “Lại cúi đầu cung thỉnh đức Thế Tôn vì con mà chứng minh, thế giới đầy dẫy cả năm sự dơ bẩn, con xin nguyện bước vào trước hết để hóa độ, nếu như có một chúng sanh nào chưa thành Phật thì trọn đời con không nhận cảnh giới an lạc của Niết-bàn”. Lý tưởng và hành động của những bậc có đời sống viễn ly đã là như vậy thì hẳn nhiên chính nó cũng là hành động và lý tưởng của Tăng đoàn.


III. BẢN THỂ CỦA TĂNG
Chánh pháp do đức Thế Tôn giảng dạy có được tuyên dương và tồn tại lâu dài hay không thì Tăng đoàn là một trong những yếu tố quyết định vấn đề. Nếu Tăng bị phân hóa, chia rẽ, thiếu sự đoàn kết, thiếu hòa hợp và thiếu hẳn đời sống thanh tịnh thì đó là dấu hiệu của Chánh pháp lu mờ. Và trái lại thì Chánh pháp hưng thịnh. Vậy Chánh pháp hưng thịnh luôn luôn gắn liền với bản thể của Tăng. Bản thể của Tăng chính là sự hòa hợp, thanh tịnh. Nếu Tăng chỉ hòa hợp mà không thanh tịnh thì sự hòa hợp ấy, chỉ là sự ô hợp và chỉ thanh tịnh mà không hòa hợp thì lấy gì để biểu lộ tính hoạt động đồng nhất của Tăng. Trong kinh Tôn giả Ưu-ba-li (Upāli) đã hỏi đức Thế Tôn về sự hòa hợp của Tăng và đã được Ngài dạy mười điều như sau - Khi nào các Tỷ khưu cho rằng:

1. Phi pháp là phi pháp.
2. Pháp đúng là pháp.
3. Phi luật là phi luật.
4. Luật đúng là luật.
5. Những điều Như Lai không nói là hoàn toàn Như Lai không nói.
6. Những điều Như Lai có nói là hoàn toàn Như Lai có nói.
7. Những điều Như Lai không sở hành là những điều Như Lai không sở hành.
8. Những điều Như Lai có sở hành là những điều Như Lai có sở hành.
9. Những điều Như Lai không chế định là những điều Như Lai không chế định.
10. Những điều Như Lai có chế định là những điều Như Lai có chế định.

Đức Thế Tôn dạy rằng: “Nói đúng mười điều như trên là nói đúng, do nói đúng nên không bị phá hoại, không bị phân hóa, không hành “Bất cộng Yết ma” và Tăng không tuyên đọc giới bổn Pātimokka (Ba-la-đề-mộc-xoa= Hướng dẫn đến giải thoát) khác biệt. Đó là mười điều kiện làm cho chúng Tăng hòa hợp hay là duy trì bản thể hòa hợp của Tăng. Trong kinh Tăng Chi bộ, đức Thế Tôn còn dạy thêm sáu nguyên tắc chung sống hòa hợp của Tăng nữa, đó là:

- Thân hòa từ ái đối với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt cũng như sau lưng.
- Ngữ hòa từ ái đối với các đồng phạm hạnh trước mặt cũng như sau lưng.
- Ý nghĩ hòa hợp từ ái đối với các đồng phạm hạnh, trước mặt cũng như sau lưng.
- Chia đều các phẩm vật đã nhận được đúng pháp cho các đồng phạm hạnh.
- Sống hòa hợp và thanh tịnh trong các giới luật với các đồng phạm hạnh, trước mặt cũng như sau lưng.
- Sống hòa hợp và thanh tịnh trong mọi kiến giải với các đồng phạm hạnh, trước mặt cũng như sau lưng.



 
niềm tin bất hoại đối với tăng 2



Đức Thế Tôn dạy, đây là sáu pháp hòa hợp làm cho chúng Tăng có sự tương ái, tương kính đưa đến hòa đồng, không tranh cãi, đưa đến hòa hợp nhất trí. Đức Thế Tôn còn dạy, sáu pháp cần ghi nhớ của Tăng, trong đó có một pháp tối thượng, gồm thâu nhiếp hết, làm giềng mối cho tất cả đó là Tri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau. Trên thực tế, đời sống tập thể hay xảy ra xích mích, phân hóa, đấu tranh, là do mâu thuẫn về quyền lợi, hoặc do phân phối quyền lợi không đồng đều. Khi nhìn thấy thực tế như vậy, nên có một số người tự nghĩ giải quyết mọi mâu thuẫn xã hội, chính là tìm cách phân phối đồng đều mọi quyền lợi vật chất, là hóa giải được mâu thuẫn xã hội. Sự thật xảy ra, nó không đơn giản như thế. Vì sự mâu thuẫn của xã hội xảy ra không chỉ mâu thuẫn về quyền lợi vật chất, mà chính mâu thuẫn về hiểu biết, về quan điểm. Và chính từ mâu thuẫn này, nó đi kèm theo những mâu thuẫn khác, và cũng chính vì bất hòa về quan điểm, dẫn tới những bất hòa của thân, ngữ và những bất hòa phân phối về vật chất…

Do đó, đức Thế Tôn dạy, trong mọi bất hòa thì bất hòa về tri kiến là tai hại hơn hết. Và trong mọi sự hòa hợp thì hòa hợp về tri kiến là quan trọng, vì nó là mấu chốt của sự sống chung trong tiến bộ, trong hòa bình. Nhưng một khi Tăng đã có sự mâu thuẫn, bất hòa về tri kiến, rồi kéo theo những bất hòa khác thì phải giải quyết như thế nào để bản thể của Tăng đừng rạn nứt, không phân hóa. Điều này đã được Ngài Ānanda và Sadi Cunda sau khi thấy Giáo chủ của ngoại đạo là Nigantha Nātaputta từ trần. Các đệ tử của vị ấy bất đồng quan điểm, tranh cãi nhau đến chỗ kịch liệt và phân hóa, Tôn giả Ānanda và Sadi Cunda thấy vậy liền đến bạch đức Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ sau khi Thế Tôn nhập diệt, chớ để những tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất an và khổ đau cho loài người và loài trời. Nhân sự thưa thỉnh này, đức Thế Tôn dạy bảy pháp diệt trừ tranh cãi của Tăng, gọi theo thuật ngữ Luật tạng là “Thất Diệt Tránh Pháp” (Sapta-dhikarana Samatha).

- Nguyên tắc thứ nhất là “Hiện tiền Tỳ ni” (Saṃmukha Vinaya). Khi đời sống của Tăng xảy ra một sự tranh chấp thì nguyên tắc giải quyết tranh chấp này cần phải có năm yếu tố căn bản hiện tiền.
1. Pháp hiện tiền: Pháp hiện tiền là căn cứ vào lời dạy của đức Phật.
2. Luật hiện tiền: Luật hiện tiền là những điều luật đã được ghi vào Luật tạng và Tăng chấp nhận tuân thủ.
3. Nhân hiện tiền: Nguyên cáo và bị cáo đều phải có mặt trước Tăng.
4. Tăng hiện tiền: Tỷ khưu cần phải đầy đủ túc sổ trong hiện tiền để giải quyết vấn đề.
5. Giới hiện tiền: Tăng phải tác pháp Yết-ma thiết lập cương giới của Pháp trường để giải quyết vấn đề.

Đủ năm yếu tố như vậy, để giải quyết vấn đề tranh chấp của các Tỷ khưu. Và chỉ giải quyết đúng nguyên tắc hiện tiền mới chấm dứt sự tranh cãi của các Tỷ khưu, đem lại sự hòa hợp trong Tăng chúng.



 
niềm tin bất hoại đối với tăng 3



- Nguyên tắc thứ hai là “Ức niệm Tỳ ni” (Sativinaya =Smṛtivinaya). Khi một số Tỷ khưu khởi tố một Tỷ khưu về một số tội đã phạm nào đó nhưng chính đương sự bị khởi tố không nhớ rõ về hành vi phạm tội của mình là có hay không có, do đó phát sinh sự tranh cãi. Trong trường hợp này, chúng Tăng phải làm phép Bạch-tứ Yết-ma (một lần nêu lên vấn đề và ba lần biểu quyết) để cho đương sự nhớ lại một cách rõ ràng là mình có phạm hay không. Nếu đương sự nhớ rõ vi phạm thì phải sám hối theo luật và nếu đương sự nhớ rõ hoàn toàn không phạm thì chúng Tăng tác pháp Yết-ma thông qua và xác định vị ấy vô tội. Sau khi Tăng đã tác pháp thông qua, vị nào còn gợi lại vấn đề, vị ấy phạm vào luật định. Đó là nguyên tắc diệt trừ tranh cãi của Tăng theo nguyên tắc “Ức niệm Tỳ ni”.

- Nguyên tắc thứ ba là “Bất si Tỳ ni” (Amūdha-Vinaya). Đây là nguyên tắc để giải quyết sự tranh chấp của các Tỷ khưu về sự kiện một Tỷ khưu phạm giới trong lúc tâm bị cuồng si, bệnh hoạn. Tăng hỏi đương sự bị cáo, trong khi hành sự như vậy có tỉnh táo hay không hay hành động một cách vô ý thức. Vị ấy trả lời trước Tăng “Tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo. Do tôi cuồng si, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói đều không phù hợp với hạnh Sa môn. Vì bị cuồng, tôi không nhớ rõ những việc tôi đã làm”. Khi đương sự trả lời như vậy xong, Tăng nghiệm xét, tiến hành thủ tục Bạch-tứ Yết-ma, để xác định đương sự trước kia là vì tâm bị cuồng, nếu có những hành động phi pháp, phi luật, những hành động ấy đƣợc miễn thứ, nay tâm đương sự đã tỉnh táo, không còn rối loạn nữa, đương sự được chấp nhận và sinh hoạt với Tăng. Sự tiến hành nguyên tắc như vậy gọi là “Bất si Tỳ ni”. Sau khi nguyên tắc này được Tăng tiến hành đúng pháp và thông qua, vị nào còn nhắc lại vấn đề, vị ấy phạm vào luật định và Tăng xét xử theo luật định ấy. Đây là nguyên tắc thứ ba để bảo toàn bản chất hòa hợp của Tăng.

- Nguyên tắc thứ tư là “Tự ngôn trị” (Paṭiññāyakarana= Pratiñākāraka-Vinaya). Đây là nguyên tắc buộc tội hay không buộc tội đối với một Tỷ khưu. Vị Tỷ khưu nhớ lại tất cả những tội đã phạm của mình rồi tự trình bày trước Tăng. Tăng sẽ thẩm định theo sự trình bày ấy, để xác định mức độ phạm tội và tiến hành thủ tục cho vị ấy hành pháp sám hối. Hoặc có những Tỷ khưu khởi tố về một Tỷ khưu phạm pháp, nhưng đương sự bị cáo chưa chịu nhận tội. Tăng phải tìm cách khuyên nhủ, phân tích đến khi đương sự chịu nhận tội. Tăng hoàn toàn không dùng quyền lực để buộc người kia phải nhận tội. Khi nào vị ấy thú nhận phạm tội, Tăng căn cứ trên lời thú nhận ấy, để nghiệm xét và xác định mức độ phạm tội và tiến hành thủ tục cho họ hành pháp sám hối. Khi Tăng tiến hành mọi thủ tục này xong, mọi sự tranh cãi của Tăng sẽ được chấm dứt, nếu vị nào trong Tăng còn gợi lại vấn đề, vị ấy phạm vào luật định và sẽ bị Tăng nghiêm trị. Đây là nguyên tắc thứ tư bảo toàn sự hòa hợp của Tăng.




 
niềm tin bất hoại đối với tăng 4



- Nguyên tắc thứ năm là “Mích tội xứ tướng Tỳ ni” (Tassapāpiyyasikā = Tatsvabhāvaisīya-Vinaya). Nguyên tắc “Mích tội tướng”, tiếng Hán còn gọi là “Tội xứ sở Tỳ ni” hoặc là “Cầu tội tự tánh”. Đây là nguyên tắc để Tăng hành xử, khi có một vị Tỷ khưu phạm pháp và đương sự bị khởi tố bởi một tỷ khưu khác. Đương sự bị khởi tố được Tăng gọi đến để thẩm tra tội tướng nhưng vị này đứng giữa Tăng nói quanh co, không xác thực vấn đề mà Tăng đã thẩm vấn. Do đó, Tăng tiến hành nguyên tắc “Mích tội tướng” để đình chỉ sự tranh cãi của các Tỷ khưu, khiến Tăng được hòa hợp. Tăng tiến hành nguyên tắc “Mích tội tướng” bằng thủ tục Bạch-tứ Yết-ma, khi Tăng áp dụng nguyên tắc này, thì Tỷ khưu bị cáo sẽ mất một số quyền lợi trong Tăng ở giai đoạn tiến hành nguyên tắc này cho đến khi Tăng tìm ra tội trạng cụ thể và đã được đương sự thú nhận. Khi đương sự đã thú nhận phạm tội, Tăng sẽ tiến hành thủ tục thẩm xét về mức độ phạm tội, rồi tiến hành thủ tục cho vị ấy hành pháp sám hối. Sau khi Tăng đã tiến hành và đã giải quyết xong vấn đề đối với đương sự, vị ấy sẽ được trở lại sinh hoạt bình thường ở trong Tăng. Đây là nguyên tắc thứ năm bảo toàn bản thể hòa hợp của Tăng.

- Nguyên tắc thứ sáu là “Đa nhơn mích tội tướng”, còn gọi là “Đa nhơn ngữ” (Yadbhūyasikīya Vinaya =Yebhuyyasikā). Đây là nguyên tắc căn cứ ý kiến của đa số, bằng cách bỏ phiếu kín hoặc công khai, để giải quyết vấn đề tranh cãi của các Tỷ khưu nguyên cáo và bị cáo.

- Nguyên tắc thứ bảy là “Như thảo phú địa” (Tiṇavatthārakoti Vinaya = Tṛṇastā prastāraka). Nguyên tắc này ví như dùng cỏ để rãi lên đất bùn sình lầy hoặc sỏi đá. Đây là nguyên tắc các Tỷ khưu sám hối tập thể, vì sự tranh cãi trong Tăng đã thật sự bị phân hóa ra nhiều phe nhóm, không có phe nhóm nào chịu phục phe nhóm nào cả. Do đó, nguyên tắc sám hối tập thể là nguyên tắc đình chỉ mọi sự tranh cãi của các phe nhóm trong Tăng làm cho Tăng có sự hòa hợp đoàn kết.

Đây là bảy nguyên tắc giải quyết mọi bất hòa của Tỷ khưu, tạo nên sự hòa hợp của Tăng. Trong kinh Tăng Chi bộ, đức Phật dạy: “Này các Tỷ khưu, tại Hội chúng nào, các Tỷ khưu khởi lên sự tranh chấp, hợp pháp hay phi pháp, sau khi khởi lên sự tranh chấp ấy, họ tìm cách tin cho nhau biết, họ tìm cách đi hòa giải và thực sự hòa giải với nhau. Họ hoàn toàn không còn tranh chấp. Này các Tỷ khưu, đây là Hội chúng đúng pháp”. Nói tóm lại, bản thể của Tăng là hòa hợp, và có sự hòa hợp là do các thành viên của Tăng biết từ bỏ mọi tham dục, mọi chấp thủ về ngã và sở hữu của ngã. Do đời sống của các Tỷ khưu là từ bỏ mọi dục vọng ở đời, mọi ý niệm về ngã và tự ngã nên họ sống chung với nhau tạo thành bản thể hòa hợp và chính bản thể hòa hợp đó, cũng là bản chất thanh tịnh của Tăng. Vậy, bản thể của Tăng vừa là hòa hợp, vừa là thanh tịnh…



 
niềm tin bất hoại đối với tăng 5



MỤC LỤC
NIỀM TIN BẤT HOẠI ĐỐI VỚI TĂNG
CHƯƠNG I. TỔNG LUẬN VỀ TĂNG...................................... 7
I. Ý NGHĨA............................................................................ 8
II. LÝ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA TĂNG ......................... 10
III. BẢN THỂ CỦA TĂNG....................................................... 14
1. Hòa hợp .......................................................................... 14
2. Thanh tịnh ....................................................................... 25
- Giới thanh tịnh .................................................................. 25
- Định thanh tịnh ................................................................. 31
- Tuệ thanh tịnh ................................................................... 34
- Giải thoát thanh tịnh.......................................................... 36
- Giải thoát tri kiến thanh tịnh ............................................. 37
IV. TÍNH ƯU VIỆT VÀ QUẢ VỊ CỦA TĂNG.............................. 40
1. Tính ưu việt ..................................................................... 40
2. Quả vị của Tăng .............................................................. 48
- Bốn Thánh hướng ............................................................. 49
- Bốn Thánh quả.................................................................. 50
V. THÀNH VIÊN CỦA TĂNG.................................................. 55
1. Thành viên dự bị.............................................................. 55
2. Thành viên chính thức..................................................... 56
VI. PHƯƠNG PHÁP TUYỂN CHỌN THÀNH VIÊN
CHÍNH THỨC....................................................................... 60
1. Các trường hợp đắc giới.................................................. 60
2. Thủ tục tiến hành............................................................. 62
VII. SINH HOẠT CỦA TĂNG .................................................. 73
1. Bố-tát............................................................................... 73
2. An cư ............................................................................... 79
3. Tự Tứ............................................................................... 81
CHƯƠNG II. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TĂNG ĐOÀN............. 88
1. Năm anh em Kiều-trần-như............................................. 89
2. Da-xá và những bạn bè.................................................... 98
3. Ba anh em Ngài Ca-diếp và hàng đệ tử........................... 106
4. Đức Thế Tôn hóa độ Xá-lợi-phất (Sāriputta) và Mục-kiền-liên (Moggallāna) …. 112
5. Nữ giới xuất gia............................................................... 119
CHƯƠNG III. NHỮNG THÁNH TĂNG TIÊU BIỂU THỜI
ĐỨC PHẬT........................................................................... 123
I. CHÚNG TỶ KHƯU.............................................................. 124
1. Tôn giả Xá-lợi-phất ( śāriputra) ..................................... 124
2. Tôn giả Mục-kiền-liên (Mogallāna)................................ 134
3. Tôn giả Ma-ha-ca-diếp (Mahākassapa).......................... 141
4. Tôn giả Phú-lâu-na (Punnamantaniputta) ..................... 154
5. Tôn giả Ca-chiên-diên (Kaccāyana)................................. 160
6. Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhūti)............................................. 171
7. Tôn giả Ưu-ba-ly (Upāli) ................................................. 175
8. Tôn giả A-na-luật (Anuruddha)....................................... 184
9. Tôn giả Ānanda (A-nan) ................................................. 195
10. Tôn giả La-hầu-la (Rāhula)............................................ 214
II. CHÚNG TỶ KHƯU NI ...................................................... 222
1. Nữ Tôn giả Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajapati)............ 222
2. Nữ Tôn giả Sai -ma (Kṣemā (s.) = Khemā) ..................... 228
3. Nữ Tôn giả Tu mạn (Somā) ........................................... 234
4. Nữ Tôn giả Thanh-liên-hoa (Utpalavarna)..................... 237
CHƯƠNG IV. TỔNG KẾT VÀ NIỀM TIN............................... 244
TỪ NGỮ ĐỐI CHIẾU........................................................... 261
SÁCH DẪN.......................................................................... 273
THƯ MỤC THAM KHẢO ..................................................... 285




 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây