HUỆ TỊNH PHÁP SƯ GIẢNG DIỄN TẬP - PHÁP SƯ HUỆ TỊNH HUỆ TỊNH PHÁP SƯ GIẢNG DIỄN TẬP -  PHÁP SƯ HUỆ TỊNH Nguyên Tác: Pháp Sư Huệ Tịnh
Việt Dịch: Từ Đức
Hiệu Đính: Định Huệ
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Hình Thức: Bìa Cứng
Khổ Sách: 14,5x20,5cm
Năm Xuất Bản: 2020
Trọn Bộ: 2 Quyển
HTPS GIẢNG GIẢI KINH 550.000 đ Số lượng: 3 Bộ
  • HUỆ TỊNH PHÁP SƯ GIẢNG DIỄN TẬP - PHÁP SƯ HUỆ TỊNH

  •  78 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: HTPS
  • Giá bán: 550.000 đ

  • Nguyên Tác: Pháp Sư Huệ Tịnh
    Việt Dịch: Từ Đức
    Hiệu Đính: Định Huệ
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Hình Thức: Bìa Cứng
    Khổ Sách: 14,5x20,5cm
    Năm Xuất Bản: 2020
    Trọn Bộ: 2 Quyển


Số lượng
Lời Giới Thiệu:
Bộ Huệ Tịnh Pháp Sư Giảng Diễn Tập này được hình thành từ các bài giảng diễn của pháp sư Huệ Tịnh ở trong nước lẫn hải ngoại qua các thời điểm khác nhau trong suốt 4 năm (từ 11/2001 đến 3/2005). Tập sách này gồm 2 quyển, bài tựa trong quyển 1 của Tịnh Từ (Trương Chí Thành) viết chung cho bộ sách 2 tập, còn một bài tựa nữa nằm ở đầu quyển 2 do Ôn Kim Kha viết, hai vị này trước đây đều là người tu học theo Hiện Đại Thiền, họ gọi người sáng lập Hiện Đại Thiền là Thầy Lý (tức thầy Lý Nguyên Tùng). Hai bài tựa này rất dài nói về lịch trình giảng diễn các bài pháp của pháp sư Huệ Tịnh và nói về quá trình chuyển từ Hiện Đại Thiền sang Tịnh Độ Hoằng nguyện môn của thầy Lý và các học trò. Đọc kỹ hai bài tựa này thì biết những diễn tiến hình thành bộ sách này, ở đây chúng tôi xin phép được lược qua. Bộ sách 2 tập này được hai Sư cô trong Ban Phiên Dịch phân công chuyển dịch từ Hoa ngữ sang Việt ngữ: Tập 1 do Sư cô Thích nữ Từ Đức dịch, tập 2 do Sư cô Thích nữ Hòa Hiệp dịch. Trong tập 2 của bản Việt dịch này, người dịch lược bỏ bài tựa của Tịnh Từ vì đã có trong tập 1 rồi. Tùy hỷ công đức hoằng pháp của hai Sư cô, Ban Phiên Dịch trực thuộc Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang xin viết đôi dòng trân trọng giới thiệu dịch phẩm này đến quý độc giả.
Tu viện Huệ Quang, ngày Lễ Vu-lan 15/07/Canh Tý (02/09/2020)
Ban Phiên Dịch - Kính ghi


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 1 min



Lời Tựa:
Huệ Tịnh Pháp Sư Giảng Diễn Tập là một bộ sách do Tịnh Độ tông Trung Quốc tập hợp các bài diễn giảng, khai thị về pháp nghĩa tông Tịnh Độ theo tư tưởng của đại sư Thiện Đạo, đã được thượng nhân Huệ Tịnh giảng dạy trong những năm gần đây, nay được chỉnh sửa biên tập thành. Thượng nhân Huệ Tịnh xuất gia từ thời niên thiếu, lập chí tu đạo cầu thành Phật, tự độ và độ chúng sanh. Trong mấy năm đầu, sau khi Thượng nhân theo tu Thiền tông, Mật tông, Tịnh tông, ngài đã dốc lòng quyết chí chuyên tu Tịnh Độ. Sau khi tuyển chọn giáo nghĩa và tu tập chân thật, miên mật pháp môn Tịnh Độ, cuối cùng Thượng nhân quy về vị tổ sư của tông Tịnh Độ thuộc triều đại nhà Đường là đại sư Thiện Đạo, y cứ vào hệ tư tưởng Tịnh Độ của tổ sư làm căn bản để khởi xướng tông phái ‘tông Tịnh Độ, hoằng dương bản nguyện Phật A-di-đà, để mưa pháp cứu độ từ bi vô hạn của đức Phật A-di-đà thấm nhuần khắp những người con Phật ở hai bên bờ đại dương Trung Quốc và Đài Loan, cho đến tất cả chúng sanh hữu duyên trên toàn thế giới đều được lợi ích.

Thầy Lý Nguyên Tùng là vị tiên sư của giáo đoàn Hiện Đại Thiền, trong lúc lâm bệnh đã từng đọc qua những trứ tác của Thượng nhân. Sau vài lần gọi điện thỉnh cầu Thượng nhân chỉ giáo, thầy khen ngợi Thượng nhân là bậc đại thiện tri thức phục hưng tông Tịnh Độ trong thời đại này, đồng thời, thầy Lý dẫn theo toàn bộ những vị đồng tu của hội Hiện Đại Thiền cùng quy y với Thượng nhân, bỏ Thiền quy Tịnh, chuyên tu niệm Phật. Đại sư Thiện Đạo tuy nổi tiếng là tổ sư của tông Tịnh Độ, được suy tôn là người có công lao lớn trong việc hệ thống lại toàn bộ giáo nghĩa Tịnh Độ, nhưng tư tưởng của đại sư từ xưa đến nay vẫn chưa được hiểu chính xác và phổ biến rộng khắp trên toàn thể giới. Đại sư y theo sự thể chứng thấu triệt niệm Phật tam-muội và trí tuệ siêu việt để phán thích kinh giáo, vì muốn phổ biến cho chúng sanh mà tuyển chọn ra một con đường rộng lớn thênh thang bằng phẳng. Bước đầu, đại sư phán định pháp môn Tịnh Độ thuộc Đốn giáo, ‘bồ-tát tạng, lấy Phàm phu làm gốc, kiêm cả thánh nhân. Trong Bát-chu tán nói:

Trong kinh Anh Lạc nói Tiệm giáo
Muôn kiếp tu công, chứng bất thoái;
Quán kinh, kinh A-di-đà đều nói
Tức là Đốn giáo, bồ-tát tạng.
Một ngày, bảy ngày chuyên niệm Phật,
Mạng chung chốc lát sanh An Lạc.
Khi nhập cõi Niết-bàn Di-đà
Liền được bất thoái, chứng vô sanh.
Trong mỗi một niệm thường chứng ngộ
Hạnh nguyện thập địa tự nhiên thành.


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 2


Ý nói, tu hành ở thế giới Ta-bà này chẳng những phải trải qua nhiều kiếp lâu dài mà còn dễ bị thoái chuyển, nhưng nhờ hạnh xưng danh niệm Phật, nương nguyện lực Phật A-di-đà, vãng sanh Tịnh Độ của Phật A-di-đà thì một đời có thể chứng đắc Đại thừa, bước lên địa vị bồ-tát bất thoái chuyển và mau chóng thành Phật. Người học có chí nguyện thì ngay trong một đời được giải thoát sanh tử luân hồi và đạt được hạnh bất thoái bồ-tát. Tại sao chúng ta không vâng theo tu tập? Phần nhiều người tu tập Tịnh Độ trong thời hiện đại đều là chúng sanh phàm phu phiền não sâu dày, khó xả bỏ duyên thế tục, họ thường cho rằng vãng sanh Tịnh Độ là việc chẳng phải dễ dàng đạt được. Đại sư vì giải trừ nghi ngờ cho chúng sanh mà nhấn mạnh đến sự cứu độ từ bi vô hạn từ bản nguyện của đức Phật A-di-đà. Phần Huyền nghĩa trong Quán kinh sớ, nói:

Nếu luận về chúng sanh cấu chướng, thật sự rất khó được vào Báo độ; nhưng do nương vào nguyện lực của Phật làm duyên mạnh mẽ, khiến cho năm thừa đều được vào Báo độ.

Trong Pháp sự tán nói:
Nhờ nguyện lực của Phật, người phạm tội ngũ nghịch, thập ác, tội diệt đều được vãng sanh; kẻ phỉ báng chánh pháp, xiển-đề nếu hồi tâm thì đều được vãng sanh.

Vì chúng sanh mà chỉ ra một hạnh nghiệp quyết định vãng sanh không chọn lựa căn cơ, tất cả mọi người đều có thể tu tập, trùm khắp cả ba căn, đó là Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Phần Tán thiện nghĩa trong Quán kinh sớ nói:

Ở trên, tuy nói về sự lợi ích của hai môn Định thiện và Tán thiện; nhưng căn cứ theo bản nguyện của đức Phật A-di-đà thì ý của kinh này nằm ở chỗ chúng sanh phải nhất hướng chuyên xưng danh hiệu đức Phật A-di-đà. Nhất tâm chuyên niệm danh hiệu đức Phật A-di- đà, trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận thời gian lâu hay mau, mỗi niệm đều không rời danh hiệu Phật, đây gọi là chánh định nghiệp, vì thuận theo bản nguyện của Phật A-di-đà. Tất cả hàng phàm phu, bất luận tội phước nhiều hay ít, thời gian lâu hay mau, nếu có thể trên suốt một trăm năm, dưới đến một ngày, bảy ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà thì nhất định vãng sanh, chắc chắn không nghi!

Lại nữa, trong Quán niệm pháp môn nói:
Nếu Phật còn tại thế hay sau khi Phật diệt độ, tất cả hàng phàm phu tạo tội, chỉ cần hồi tâm niệm Phật A-di-đà, nguyện sanh về cõi Tịnh Độ; trên suốt một trăm năm, dưới đến bảy ngày, một ngày, mười tiếng, ba tiếng, một tiếng v.v., lúc sắp mạng chung, được Phật và thánh chúng đến tiếp đón, liền được vãng sanh.

‘Nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà chẳng những đơn giản dễ hành, mà còn không chọn lựa bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi; thời gian, nơi chốn, trong tất cả các duyên đều có thể tu tập được. Ngoài đơn giản, dễ hành ra, đại sư còn nhấn mạnh công đức xưng niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà thù thắng siêu việt hơn hẳn muôn hạnh khác, vì niệm Phật tam-muội là vua trong các tam-muội. Ý này, phần Định thiện nghĩa trong Quán kinh sớ nói:

Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng nếu so với hạnh niệm Phật thì hoàn toàn không thể sánh được. Thế nên trong các kinh, kinh nào cũng khen ngợi công năng của việc niệm Phật. Như bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ, chỉ nói chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được vãng sanh. Lại như trong kinh A-di-đà nói, một ngày, bảy ngày chuyên niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà thì được vãng sanh. Lại mười phương Hằng sa các đức Phật chứng thật lời đức Phật Thích-ca dạy chuyên niệm Phật là không hư dối. Lại trong văn Định thiện và Tán thiện của Quán kinh chỉ nêu ra chuyên niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà thì được vãng sanh. Những dẫn chứng trên đây chẳng phải là một, đều triển khai về niệm Phật tam-muội.


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 3 min


Căn cứ vào văn trên có thể biết, đại sư Thiện Đạo cho rằng tất cả chúng sanh phàm phu phiền não, tội ác trong mười phương, dưới cho đến người phạm tội ngũ nghịch, thập ác, kẻ xiển-đề phỉ báng chánh pháp v.v., chỉ cần niệm Phật, tội diệt đều được vãng sanh Tịnh Độ, giải thoát sanh tử, hướng đến Vô thượng bồ-đề; trên đến bồ-tát đại tâm, thánh nhân Nhị thừa hồi tâm, cũng có thể tu tập niệm Phật tam-muội, cầu vãng sanh Tịnh Độ, mau chứng Phật quả, sớm i nhập Ta-bà, độ khắp chúng hữu tình. Có thể nói, tư tưởng của Thượng nhân hoàn toàn y cứ vào đại sư Thiện Đạo, ngài nhận định chỉ có đại sư Thiện Đạo là Tông tổ của tông Tịnh Độ, đồng thời tổng quát tông chỉ của tông Tịnh Độ như sau:

Tin nhận Di-đà cứu độ,
Chuyên xưng Di-đà Phật danh,
Nguyện sanh Di-đà Tịnh Độ,
Độ khắp mười phương chúng sanh.

Cuộc đời, đạo hạnh của Thượng nhân đều y theo lời khuyên dạy của tổ sư, chỉ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, tự mình tu tập, dạy người khác tu tập, như trong phần Định thiện nghĩa, Đại sư nói:
Muốn bỏ thân sanh tử, bát khổ, ngũ khổ, và các khổ ở trong ba đường ác ở cõi Ta-bà này, hành giả nào nghe pháp môn niệm Phật liền sanh lòng tin tưởng, không tiếc thân mạng, thì hãy mau nói cho họ nghe pháp môn này. Nếu người nào có thể dạy cho một người lìa khổ, ra khỏi sanh tử, thì đây gọi là chân thật báo ơn Phật.

Vì sao?
Vì chư Phật xuất thể dùng nhiều phương tiện khuyến hóa chúng sanh, không muốn chỉ khuyến hóa họ không làm các điều ác mà tu phước, để hưởng thọ sự khoái lạc của trời người, vì sự khoái lạc của nhân thiên tợ như ánh chớp, thoáng chốc liền vụt tắt, phải trở lại trong ba đường ác, chịu khổ lâu dài. Vì nhân duyên này mà các Ngài chỉ khuyên dạy chúng sanh cầu vãng sanh Tịnh Độ, hướng đến Vô thượng bồ-đề. Thế nên, hôm nay khuyên người nào có duyên phát nguyện vãng sanh Tịnh Độ, tức là phù hợp với ý bản nguyện của chư Phật.

Trong Pháp sự tán nói:
Thệ nguyện đến cõi nước An Dưỡng,
Trở lại cõi Uế, độ trời người;
Nguyện Tôi từ bi không giới hạn,
Nhiều kiếp lâu dài báo từ ân.

Trong Vãng sanh lễ tán nói:
Tự tin dạy người tin,
Trong khó càng thêm khó;
Từ bi giáo hóa khắp,
Chân thật báo ơn Phật.

Tâm từ bi của Thượng nhân sâu kín, quên mình vì người, âm thầm siêng năng chịu khó khuyến hóa chúng sanh, khéo dẫn dắt chúng sanh quay về Tịnh Độ, đó gọi là chân thật báo ơn Phật, phù hợp với ý bản nguyện của chư Phật. Đáng được gọi là sứ giả của đức Phật A-di-đà, ‘hóa thân của từ bi. Xuất xứ cuốn Giảng diễn tập này là dựa theo băng ghi âm tùy duyên khai thị của Thượng nhân trong mấy năm nay được chỉnh sửa biên tập thành. Nội dung khai thị của Thượng nhân sâu sắc, lời lẽ rõ ràng dễ hiểu, chất phác trong sáng, đồng thời nêu nhiều thí dụ sinh động khiến cho người nghe càng có ấn tượng sâu sắc, để lần lượt hướng dẫn người học hiểu rõ tư tưởng của đại sư Thiện Đạo mà tin nhận tâm từ bi cứu độ của đức Phật A-di-đà, nguyện sanh Tịnh Độ trang nghiêm của đức Phật A-di-đà và nhất hướng chuyên xưng danh hiệu Phật A-di-đà. Vì nội dung phong phú nên sau khi tập hợp chỉnh sửa, đã xuất bản thành tập sách này.


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 4 min


Trong tập một, năm bài: ‘Quan niệm vô thường của Phật giáo, “Ý nghĩa sáu chữ danh hiệu, ‘Lợi ích thù thắng của việc niệm Phật, ‘Giải thích hai đoạn văn kinh trong kinh A-di-đà và ‘Lược giảng nguyện thứ mười tám, được Thượng nhân thuyết giảng trong chương trình thu thanh tại thành phố Auckland ở New Zealand vào giữa tháng 11 năm 2001. Cùng thời điểm này, Thượng nhân giảng Phán định về hai đạo khó và dễ tại Phổ Hiền Tịnh Uyển ở thành phố Auckland. Năm 1995, giảng về ‘Mục đích của đời người tại hiệp hội Tuổi trẻ Phật giáo ở Áo Môn (Ma Cao). Tháng 9 năm 2002, giảng về ‘Tăng thượng duyên tại Giảng đường Di-đà, ở Bản Nguyện sơn, Đài Trung Tháng 2 năm 2004, giảng ‘Ba đoạn văn kinh nói về hai tầng nhân quả trong Tiểu kinh tại trường Tiểu học Thành Đức, Đài Bắc.

Tháng 8 năm 2004, giảng về ‘Pháp ngữ khánh thành Tuệ Liên Tịnh Uyển cho Tịnh Độ Tông Hồng Kông tại Tuệ Liên Tịnh Uyển, Hồng Kông. Tháng giêng năm 2005, giảng về ‘Sự cứu độ của đức Phật A-di-đà tại Hội Tịnh Độ Tông Di-đà cộng tu, thuộc phân hội Đài Trung. Cũng vào tháng giêng năm 2005, giảng về hai bài ‘Chân thật đại hiếu’ và ‘Lược giảng Tông phong Tịnh Độ tại Thư viện Tịnh Độ Tông, Tượng Sơn, Đài Bắc. Nội dung của tập hai thì từ tháng giêng năm 2004 đến nay, tại Thư viện Tịnh Tông, thôn Di-đà, thuộc khu Tượng Sơn, Đài Bắc, Thượng nhân tùy duyên mà khai thị định kỳ vào tối Chủ nhật của tuần thứ ba trong mỗi tháng, người nghe pháp chủ yếu là những vị đồng tu của Hội cộng tu Di-đà. Hội cộng tu Di-đà vốn là ‘Hiện Đại Thiền, tiếp nhận những người cầu học mà sáng lập ra ‘Giáo đoàn Hiện Đại Thiền, ngày trước, thầy Lý bỏ Thiền quy Tịnh, thỉnh cầu Thượng nhân làm thầy.

Trong đó, phần nhiều là các vị đồng tu ở Khu tu hành Tượng Sơn, thuộc khu Tín Nghĩa, Đài Bắc; về sau đổi thành ‘Thôn Di-đà Tượng Sơn. Duyên khởi tập sách này trong bài tựa (tập II) của sư huynh Ôn Kim Kha có thuật lại rõ ràng. Sau cùng, tập sách này được xuất bản, xin gởi lời cảm ơn đến ‘Tịnh Độ Tông văn giáo cơ kim hội và Hội cộng tu Di-đà, một nhóm đồng tu tình nguyện đã âm thầm xuất tiền ấn tống.
20 Tháng 03, năm 2005- PL. 2549
Tịnh Từ kính ghi


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 5 min



Trích “Quan Niệm Vô Thường Của Phật Giáo”:
Nam-mô A-di-đà Phật! Chào các bạn học Phật đang ngồi bên máy thu thanh! Tôi là nhà sư, tên là Thích Huệ Tịnh, từ Đài Loan đến đây. Tối nay, có cơ duyên gặp quý vị trong bầu không khí này, tôi cảm thấy rất vui, đây là một cơ hội rất hiếm có, rất đáng quý. Đúng như vừa giới thiệu, bắt đầu từ hôm nay đến bốn buổi chiều tiếp theo, mỗi buổi chiều, tôi có nửa giờ để kết duyên với quý vị. Hôm nay, tôi xin kết duyên với quý vị về chủ đề: “Quan niệm vô thường của Phật giáo”.

Những Gì Tồn Tại Đều Vô Thường
Cái được gọi là “thường” thì vĩnh viễn không thay đổi, không suy thoái, thậm chí cũng sẽ không tiêu diệt, không chết, mãi mãi trường tồn, gọi là thường. Đã là “vô thường” thì biểu hiện của nó là thay đổi, chuyển biến, suy thoái, thậm chí đến cuối cùng cũng phải tiêu diệt, phải chết. Đây gọi là vô thường. Tất cả những gì tồn tại ở thế gian đều là vô thường, chẳng phải tồn tại vĩnh hằng, chẳng phải vĩnh viễn bất biến. Nói là những gì tồn tại, thế thì không có điều gì không được bao quát trong đó, vì những gì tồn tại trong vũ trụ, có cái thuộc về vật chất hữu hình, mắt chúng ta thấy được, tai nghe được; có cái tồn tại thuộc về vô hình, thuộc về phương diện tinh thần, thí dụ như tư tưởng, quan niệm, học vấn, nhận thức, suy nghĩ, v.v. của chúng ta, tất cả đều chẳng phải là vĩnh viễn tồn tại, chẳng phải không bao giờ thay đổi.

Tâm niệm của chúng ta không ngừng chuyển biến trong từng giờ, từng phút, từng sát-na, cho dù tư tưởng quan niệm của chúng ta có kiên định đi nữa, nhưng nếu gặp một cơ duyên nào đó thì quan niệm của chúng ta cũng sẽ thay đổi, đây là vô thường thuộc về phương diện trừu tượng, vô hình. Như thế, vật ở ngoài tâm, thí dụ như thân thể của chúng ta thuộc về thế giới vật chất cũng là vô thường. Vì thân này do các tế bào hợp thành, mà các tế bào thì luôn luôn thay cũ, đổi mới không ngừng, cho nên thân thể của chúng ta dĩ nhiên cũng bị vô thường chi phối. Thân của chúng ta khi mới sanh ra là một hài nhi, đến tuổi thơ ấu, thiếu niên, thanh niên, rồi trung niên, sau đó sẽ dần dần già yếu, thậm chí bệnh tật, đến một lúc nào đó thì nhất định phải chết. Đó gọi là sanh, lão, bệnh, tử của nhục thể.

Những cái khác, thí dụ như cái bàn, cái ghế, ruộng đồng, nhà cửa vv., và các loại phẩm vật, khí cụ khác cũng đều đang suy thoái trong từng giờ, từng phút, vĩnh viễn không thể duy trì một hình thể cố định. Đây gọi là sanh, trụ, dị, diệt’ của các đồ vật. Đến như núi sông, đất đai, địa cầu, hệ mặt trời, hệ ngân hà, thậm chí vũ trụ bao la kiên cố này cũng đều biến chuyển hư hoại trong từng giờ, từng phút, cuối cùng cũng dẫn đến hủy diệt. Đây chính là thành, trụ, hoại, không. Bất luận là thế giới tinh thần hay vật chất cũng đều vô thường, người nào cuối cùng cũng sẽ chết, vật gì cuối cùng cũng sẽ diệt. Đây chính là đạo lý vô thường.


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 6


Quan Niệm Vô Thường Của Phật Giáo
Phật giáo nói về “vô thường”, thông thường là chỉ về cái chết của con người, thế nên, quan niệm về vô thường trong Phật giáo chính là cách nhìn nhận và quan niệm về cái “chết”. Ở đây, xin trích dẫn vài câu chuyện để làm thí dụ cho quý vị dễ hiểu: Thời còn tại thế, đức Phật có nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận thức về vô thường, Ngài dẫn ra “bốn loại ngựa” dụ cho trình độ nhận thức về vô thường của chúng sanh không đồng nhau.

+ Loại thứ nhất là “ngựa giỏi” (lương mã), nghĩa là “ngựa giỏi vừa thấy bóng roi liền chạy”. Đây là loại ngựa rất thông minh, thấy roi của chủ liền biết nên chạy hay dừng, không thể chạy chậm chạp hồ đồ được.
+ Loại thứ hai là “ngựa tốt” (hảo mã), tuy thông minh không bằng ngựa giỏi, nhưng roi của chủ vừa chạm đến đầu lông ở phần đuôi, nó liền biết nên chạy hay dừng.
+ Loại thứ ba là “ngựa thường” (dung mã), loại ngựa này so với hai loại ngựa trên thì chậm chạp, phải đợi roi đánh vào thân, cảm thấy đau mới hí lên, rồi mới biết là nên chạy.
+ Loại thứ tư là “ngựa tồi” (nô mã), loại ngựa này chậm chạp nhất, roi đánh vào thân, đau đến xương tủy, mới biết là nên chạy hay dừng.

Bốn Trình Độ Nhận Thức Về Vô Thường Không Giống Nhau
Đây là bốn loại ngựa dụ cho bốn hạng người trình độ nhận thức về vô thường không như nhau.

+ Hạng thứ nhất: Hạng người này thấy hoa nở hoa tàn, liền nhận thức được đời người là vô thường; thấy khói bốc lên từ bãi hỏa táng tử thi, liền nhận thức được việc lớn sanh tử. Họ tư duy: “Con người từ đâu sinh đến? Chết đi về đâu? Có thế giới sau khi chết hay không? Nếu không thì chết là hết; nếu có thì thế giới sau khi chết sẽ thế nào? Khổ hay vui?” Họ sẽ tư duy về vấn đề này và muốn hiểu rõ về nó. Nếu thật sự có thế giới sau khi chết, thì họ sẽ tuyển chọn một thế giới tuyệt đối an lạc. Đây là hạng người căn tánh lanh lợi nhất trong Phật giáo, chỉ cần thấy hoa nở, tuy đang rực rỡ, tràn đầy sức sống, nhưng qua một thời gian hoa sẽ khô héo, điêu tàn, rơi rụng. Người này lập tức nhận thức được thân mình cũng giống như bông hoa.

+ Hạng thứ hai: Hạng người này thấy đoàn người đưa tang, hoặc cỗ quan tài hay xe tang đi qua, liên nhận thức được cuối cùng cũng có một ngày mình sẽ như thế, cho nên phát tâm học Phật tu hành.

+Hạng thứ ba: Hạng người này nhất định phải để cho họ thấy bạn bè hoặc người hàng xóm của mình chết, hay tham gia lễ tang của bạn, họ mới nhận thức được cuối cùng cũng có một ngày đến phiên mình. Bởi vì, nghĩ đến điều này mà không tu hành thì không được.

+ Hạng thứ tư: Hạng người này nhất định phải đợi người mình gần gũi nhất, quan tâm nhất, thương yêu nhất, thí dụ như cha mẹ, hoặc anh chị em của họ chết thì họ mới tỉnh ngộ, rằng không lâu sau mình cũng giống như họ. Nếu như ngay cả những người gần gũi của họ chết, mà họ cũng không cảm nhận sâu sắc được, đợi đến khi tự mình tuổi già sức yếu, bệnh tật, họ mới cảm nhận được vô thường. Hạng người này so với ba hạng người trên thì chậm lụt hơn. Còn như tự mình luôn bị bệnh tật bủa vây mà cũng không nhận biết được vô thường đã vô cùng cấp bách, vậy thì người này chẳng mảy may nhận thức được vô thường. Người không nhận thức được vô thường cũng giống như người không có cảm tình với tôn giáo vậy, họ sẽ không theo tín ngưỡng tôn giáo và không tiến thêm một bước nữa là tu hành…


 
huệ tịnh pháp sư giảng diễn tập 7 min



MỤC LỤC:
QUYỂN 1:
Lời Giới Thiệu
Lời Tựa
Bài 1: Quan Niệm Vô Thường Của Phật Giáo
Bài 2: Ý Nghĩa Sáu Chữ Danh Hiệu
Bài 3: Lợi Ích Thù Thắng Của Việc Niệm Phật
Bài 4: Giải Thích Hai Đoạn Văn Kinh Trong Kinh A-Di-Đà
Bài 5: Lược Giải Nguyện Thứ Mười Tám
Bài 6: Phán Định Về Hai Đạo Khó Và Dễ
Bài 7: Mục Đích Của Đời Người
Bài 8: Tăng Thượng Duyên
Bài 9: Ba Đoạn Văn Kinh Nói Về Hai Tầng Nhân Quả Trong Tiểu Kinh
Bài 10: Đại Hiếu Chân Chính Là Niệm Phật Để Siêu Độ Tổ Tiên
Bài 11: Sự Cứu Độ Của Đức Phật A-Di-Đà
Bài 12: Lược Giảng Về Tông Phong Tịnh Độ
Bài 13: Pháp Ngữ Trong Dịp Khánh Thành “Tuệ Liên Tịnh Uyển”, Tịnh Độ Tông Hương Cảng
Phụ Lục 1: Tăng Thượng Duyên
Phụ Lục 2: Ba Đoạn Văn Kinh Nói Về Hai Tầng Nhân Quả Trong Tiểu Kinh
Phụ Lục 3: Tông Phong Của Tông Tịnh Độ
QUYỂN 2
Lời Giới Thiệu
Lời Tựa
Bài 1: Quy Mạng Phật A-Di-Đà
Bài 2: Cơ Pháp Nhất Thể
Bài 3: Nhân Quả Tự Nhiên
Bài 4: Từng Làm Cao Tăng, Lại Bị Đọa Lạc
Bài 5: Liều Mạng Niệm Phật
Bài 6: Chuyển Thân Sanh Làm Kỹ Nữ
Bài 7: Ba Đoạn Văn Trong Tiểu Kinh
Bài 8: Chánh Hạnh Và Tạp Hạnh (1)
           Chánh Hạnh Và Tạp Hạnh (2)
           Chánh Hạnh Và Tạp Hạnh (3)
           Chánh Hạnh Và Tạp Hạnh (4)
Bài 9: Lược Nói Về Quy Y
Bài 10: Pháp Ngữ Tẫn Táng Pháp Sư Tịnh Tung
Bài 11: Tịnh Đức Chiêu Chương Đức Hạnh Và Di Chí Của Pháp Sư Tịnh Tung
Bài 12: Đạo Quy Tịnh Độ
Phần Phụ: Ba Thí Dụ Về Hoa Sen
Bài 13: Nhất Tâm Niệm Phật
Bài 14: Dùng Tâm Chân Thành Để Cảm Hóa Người Khác
Bài 15: Duyên Với Chúng Sanh Khổ Đau
Bài 16: Thủ Ngu Niệm Phật
Bài 17: Niệm Phật Chính Là Cuộc Sống
Phụ Lục
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây