VÔ LƯỢNG THỌ KINH ƯU BÀ ĐỀ XÁ CHÚ GIẢI GIẢNG NGHĨA - SA MÔN TÁNH PHẠM VÔ LƯỢNG THỌ KINH ƯU BÀ ĐỀ XÁ CHÚ GIẢI GIẢNG NGHĨA - SA MÔN TÁNH PHẠM Tạo Luận: Ấn Độ Thế Thân Bồ Tát
Dịch Luận: Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi
Chú Giải: Sa Môn Đàm Loan
Giảng Nghĩa: Sa Môn Tánh Phạm
Chuyển Ngữ: Bửu Quang Đệ Tử Như Hòa
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Số Trang: 481 Trang
Hình Thức: Bìa Cứng
Khổ Sách: 18,8x26cm
Năm Xuất Bản: 2021
Độ Dày: 2,8cm
VLTK GIẢNG GIẢI KINH 300.000 đ Số lượng: 5 Quyển
  • VÔ LƯỢNG THỌ KINH ƯU BÀ ĐỀ XÁ CHÚ GIẢI GIẢNG NGHĨA - SA MÔN TÁNH PHẠM

  •  164 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: VLTK
  • Giá bán: 300.000 đ

  • Tạo Luận: Ấn Độ Thế Thân Bồ Tát
    Dịch Luận: Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi
    Chú Giải: Sa Môn Đàm Loan
    Giảng Nghĩa: Sa Môn Tánh Phạm
    Chuyển Ngữ: Bửu Quang Đệ Tử Như Hòa
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Số Trang: 481 Trang
    Hình Thức: Bìa Cứng
    Khổ Sách: 18,8x26cm
    Năm Xuất Bản: 2021
    Độ Dày: 2,8cm


Số lượng
VÔ LƯỢNG THỌ KINH ƯU BÀ ĐỀ XÁ CHÚ GIẢI GIẢNG NGHĨA
無量壽經優婆提舍註解講義
Ấn Độ Thế Thân Bồ Tát tạo luận
印度世親菩薩造論
Nguyên Ngụy Thiên Trúc Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chí dịch luận
元魏天竺三藏菩提流支譯論
Nguyên Ngụy Huyền Trung Tự sa-môn Đàm Loan chú giải
元魏玄中寺沙門景註解
Dân Quốc Tịnh Luật Tự sa-môn Tánh Phạm giảng nghĩa
民國淨律寺沙門性講義
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang


 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 1 min


Đôi Nét Về Pháp Sư Tánh Phạm
Pháp sư Tánh Phạm (1920-1997), tục danh là Hoàng Khuê, tự Hữu Minh, sanh quán tại làng Phong Thị, huyện Vĩnh Định, tỉnh Phước Kiến, trong một gia đình nông dân. Năm 17 tuổi, khi đang làm thầy giáo làng tại quê nhà, do quân phiệt Nhật xâm chiếm Trung Hoa, Sư bỏ dạy, đăng lính. Sau khi nhập ngũ, Sư được đưa đi học tại trường quân đội Trung Ương rồi được cử làm cán bộ đặc trách chính trị cho quân đội Quốc Dân Đảng. Sau khi quân đội Quốc Dân Đảng thành Công đuổi quân Nhật ra khỏi Đài Loan, Sư được cử làm chủ nhiệm văn phòng xử lý thường vụ huyện Kim Môn của Đài Loan. Năm 1949, khi Hoả Lục thất thủ, chính quyền Quốc Dân Đảng phải chạy sang Đài Loan, Sự xin giải ngũ, mở Tự Do Thư Cục tại Cơ Long (Đài Loan). Trong số những người lui tới thư cục, Có nhiều vị là những nhân sĩ học Phật phẩm hạnh và trình độ nội học rất cao. Nhờ đó, hạt giống Bồ Đề được vun bồi, Sư đã ôm chí nguyn xuất gia.


 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 2 min


Trước hết, Sư xin quy y với pháp sư Từ Hàng, được ban pháp danh là Từ Vạn. Sư từng thân cận các vị danh tăng thuở ấy như Từ Hàng, Đạo An, An Thuận, Bạch Thánh, Đạo Nguyên, Sám Vân, Hội Tánh v.v... Năm 1955 (vừa tròn 35 tuổi), Sư cầu thọ Tại Gia Bồ Tát Giới tại chùa Nguyên Quang thuộc núi Sư Đầu. Năm 1958, Sư theo sát pháp sư Đạo Nguyên để nghe giảng kinh Địa Tạng tại chùa Hải Hội thuộc huyện Cơ Long. Mãi đến năm 1962, khi Sư đã 42 tuổi, nhân duyên viên mãn, Sư xin xuất gia với pháp sư Hội Tánh tại chùa Linh Phong Lan Nhã thuộc thành phố Miêu Lật, được ban pháp hiệu là Chấn Từ, pháp tự là Tánh Phạm. Do giới hạnh kiêm ưu, Sư được đặc cách thọ Cụ Túc Giới ngay trong năm sau tại Viện Sơn Lâm Tế Tự ở Đài Bắc dưới sự chứng đàn của các vị trưởng lão Bạch Thánh, Huệ Tam, và Đạo Nguyên.

 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 3 min


Ngài được chọn làm Thủ Sa Di trong giới đàn này. Trong khóa an cư kết hạ năm ấy, Sư chuyên chú nghe trưởng lão Đạo Nguyên giảng kinh Niết Bàn. Năm 1964, Sư sang Phước Nghiêm Tinh Xá tại thành phố Tân Trúc theo học với ngài Ấn Thuận. Suốt trong hai năm 1964-1965, Sư sáng lập và điều hành hội phóng sanh Vô Lượng Thọ và hội in kinh Vô Lượng Thọ. Năm 1968, Sư được thỉnh làm Trụ Trì đời thứ tám của chùa Nguyên Quang tại núi Sư Đầu. Đến năm 1974, Sư xin nghỉ. Năm 1974, Sư sáng lập Vô Lượng Thọ Đồ Thư Quán tại Tân Trúc (nay là chùa Pháp Bảo trực thuộc hệ thống Phật Quang Sơn). Từ năm 1974 đến năm 1976, Sư làm Đương Gia và quyền Trụ Trì của Huệ Nhật Giảng Đường. Năm 1977, chấp nhận lời thỉnh cầu của tứ chúng, Sư làm Trụ Trì Phước Nghiêm Tinh Xá cho đến năm 1981. Năm 1983, Sự lại làm Trụ Trì chùa Tam Hiệp Phật Giáo Tịnh Nghiệp Lâm tại Đài Bắc. Sau đó, Sư bế quan tu tập một năm tại các chùa Thiện Thiên, Tường Lâm Tinh Xá v.v..

Năm 1984, Sư trụ tích tại chùa Tịnh Luật ở Lộc Cốc thuộc huyện Nam Đầu. Năm 1985, chấp nhận lời thỉnh cầu của Hòa Thượng Trụ Trì chùa Tịnh Luật, Sư làm chủ thất khóa Tinh Tấn Niệm Phật kéo dài suốt hai mươi mốt ngày. Sau đó, Sư giảng các bộ Bát Nhã Tâm Kinh và Quán Vô Lượng Thọ Phật cho tứ chúng. Năm 1987, chùa Tịnh Luật thành lập Tịnh Luật Học Phật Viện, cung thỉnh Sư làm Phó Viện trưởng. Sư bèn giảng kinh Pháp Hoa tại đó. Sư bế quan suốt năm 1991 tại Diệu Âm Tinh Xá thuộc huyện Nam Đầu. Năm sau, Sư xuất quan, giảng kinh Vô Lượng Thọ hai lượt và các bộ Vãng Sanh Luận Chú, Vãng Sanh Tịnh Độ Truyền Tập Yếu tại chùa Tịnh Luật.

Ngày 21 tháng Hai năm 1997, Sư bắt đầu bế quan tại chùa Tịnh Luật, rồi chuyển sang Phước Nghiêm Tinh Xá. Ngày mồng Ba tháng Ba năm 1997, Sư lập di chúc, giao cho hai vị pháp sư Chân Hoa và Đại Hàng toàn quyền xử lý hậu sự. Ngày 11 tháng Tư năm 1997, trong tiếng niệm Phật của đại chúng, Sư nằm bên hông phải, an tường viên tịch. Ngoài những bài giảng chưa được biên tập, hiện thời, các tác phẩm của Sư đã được in thành sách là Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Quán Hạnh Giải, Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Nghĩa, các bài giảng về Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, An Lạc Tập Giảng Nghĩa, Vãng Sanh Tịnh Độ Truyền Tập Yếu, Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận Giảng Nghĩa, Vạn Thiện Đồng Quy Tập Giảng Nghĩa, và Nhân Quả Tuyển Tập. Sư còn đang viết dở bộ Quán Kinh Diệu Tông Sao Giảng Nghĩa thì đã xả báo viên tịch.


 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 4 min


Trích “Thích Danh (Giải Thích Danh Xưng)”:
Bộ luận này có tên gọi đầy đủ là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Chú Giải Giảng Nghĩa, còn gọi là Vãng Sanh Tịnh Độ Luận, gọi đơn giản là Vãng Sanh Luận, hoặc gọi là Tịnh Độ Luận. Nay để giải thích danh xưng, sẽ chia thành ba đoạn:

1. Vô Lượng Thọ Kinh.
2. Ưu Bà Đề Xá.
3. Nguyện Sanh Kệ.


Vô Lượng Thọ Kinh
Đây là tựa đề kinh theo lối nhân đề (dùng người để đặt tên kinh), mà cũng là pháp đề (dùng pháp để đặt tên kinh) của một bộ giáo điển cơ bản làm cơ sở y cứ cho Tịnh Độ Tông Trung Hoa. Trong bộ Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Nghĩa, tôi đã giải thích, phân tích tường tận ý nghĩa được bao hàm [trong tựa đề này], nay giảng bộ luận này, chẳng cần phải nói nhiều nữa. Dựa theo Lý và Sự, sẽ nói giản yếu như sau:
  1. Nói theo Lý, Vô Lượng chính là A Di Đà, dùng Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ để bao gồm trọn vẹn hết thảy các thứ vô lượng. Vì sao vậy? Vô Lượng Quang là theo chiều ngang trọn khắp mười phương, Vô Lượng Thọ thì theo chiều dọc tột cùng ba đời. Đấy là cái Thể của Nhất Chân pháp giới, mà cũng chính là cảnh Thật Tướng của các pháp, thường nói là “ngôn ngữ dứt bặt, tâm hành xứ diệt”, chính là nhất tâm nhị môn chẳng thể nghĩ bàn.
 
  1. Nói theo Sự, đấng Cực Lạc giáo chủ đã tu chứng cảnh thế này mà thành Phật; vì thế, Ngài có tên là A Di Đà Phật. Chúng ta niệm Phật, phát nguyện vãng sanh, mục đích chính là “hoa nở, thấy Phật, ngộ Vô Sanh”, mà cũng vì liễu ngộ, chứng nhập cảnh thể ấy để rồi hoàn thành lý tưởng tối cao “trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh”. Chúng sanh trong thế gian cho đến vạn hữu trong vũ trụ, đều là pháp hữu vi sanh diệt, hết thảy đều có hạn lượng, hoàn toàn thuộc vào vô thường. Do vô thường nên khổ, điều này chẳng lý tưởng! Chúng ta học Phật chính là mong đạt đến cảnh giới Thường Lạc Ngã Tịnh viên mãn. Vô Lượng Thọ chính là Thường, do Thường nên Lạc, Lạc là tự tại, giải thoát, thanh tịnh! Do vậy, Vô Lượng Thọ chính là mục tiêu duy nhất để học Phật của chúng ta. Niệm Vô Lượng Thọ Phật chính là “hệ niệm cảnh chẳng thể nghĩ bàn, niệm đâu chú tâm tại đó”. Ba kinh một luận của Tịnh Tông đều nhằm dạy tâm chúng ta chẳng lìa điều này: “Thường niệm A Di Đà”, rốt cuộc ai nấy đều đạt đến Phật cảnh, Phật quả Vô Lượng Thọ!
 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 5


Ưu Bà Đề Xá
Đây là [danh xưng trong] tiếng Phạn của một thể loại trong mười hai phần giáo, dịch nghĩa là Luận Nghị, tức là đức Phật và các đệ tử giải thích ý nghĩa của kinh. Trong ấy, bao gồm các ý nghĩa “vấn đáp, chọn lựa dứt khoát, phân tích, thảo luận”. Luận ở Ấn Độ có hai loại:
  1. Một là Tông Kinh Luận, tức là dựa theo tông yếu của một hay nhiều loại ý nghĩa trong kinh để thuyết minh quy nạp những [giáo nghĩa] thiết yếu [trong bộ kinh ấy hay các kinh ấy], chẳng chú trọng câu văn [trong chánh kinh] là nhiều hay ít. Luận này (Vãng Sanh Luận) thuộc loại Tông Kinh Luận.
 
  1. Hai là Thích Kinh Luận, tức là dựa theo kinh văn của một bộ kinh nào đó, xét theo từng câu mà giải thích ý nghĩa của kinh văn, tương đương với chú sớ của Trung Hoa.

Luận Này Có Hai Phần:
  1.  Một là Tổng Thuyết Phần, tức là phần Kệ Tụng mỗi câu năm chữ.
  2.  Hai là Giải Nghĩa Phần, tức là phần văn Trường Hàng tiếp theo sau đó.

Đặc điểm của bộ luận này hoàn toàn chẳng nhằm phát huy giáo lý, mà là dựa theo Tịnh Độ Tam Kinh, nhất là kinh Vô Lượng Thọ để đề ra cương yêu và phương pháp tu hành, tức là Ngũ Niệm Pháp Môn, nhằm dạy chúng ta phải niệm Phật như thế nào (lễ bái, xưng danh, quan sát)? Phát nguyện như thế nào? Hồi hướng như thế nào hòng "vạn người tu, vạn người đến”. Đúng là thuyền Từ trong biển khổ, là bè báu cứu đời! Do vậy, hễ là liên hữu Tịnh Tông cho đến hết thảy mọi người trong cõi đời đều phải nên duyệt đọc và liễu giải, lại còn phải nên y giáo phụng hành!

 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 6 min


Nguyện Sanh Kệ
“Nguyện” có nghĩa là chí tâm tin ưa, mà cũng bao hàm các nhân tố tâm lý như “cung kính, chẳng gián đoạn, lâu dài, không có những tâm khác” v.v... “Sanh” là bỏ báo thân này, sanh sang Cực Lạc Tịnh Độ kia. “Kệ” là nói tắt của chữ Già Đà (Gatha) trong tiếng Phạn, mỗi câu là bốn chữ, năm chữ, cho đến tám chữ. Cứ bốn câu là một Kệ, còn gọi là một Tụng, giống như cổ thi Trung Hoa. Nguyện Sanh Kệ chính là tên gọi chung của toàn bộ phần Kệ Tụng trong bộ luận này. Trong Tống Tạng (Đại Tạng Kinh đời Tống), [từ ngữ] Nguyện Sanh Kệ được ghi trước chữ Kệ Tụng, trong Cao Ly Tạng (Đại Tạng Kinh của Đại Hàn), [Nguyện Sanh Kệ] được xếp ra phía sau trong danh xưng của bộ luận. [Trong các bản Đại Tạng Kinh ấy], tên gọi đầy đủ của bộ luận này là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ (無量壽經優婆提願生倡), tức là lấy Nguyện Sanh Kệ làm tên gọi của toàn thể bộ luận. Đấy chính là sai lầm!


 
vô lượng thọ kinh ưu bà đề xá chú giải giảng nghĩa 7 min


Trong mục lục của Đại Chánh Tạng (Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh) của Nhật Bản, họ lược bỏ ba chữ Nguyện Sanh Kệ. Nguyện Sanh Kệ gồm tất cả hai mươi bốn bài Kệ. Trong hai bài Kệ đầu tiên, Tạo Luận Chủ (tác giả của bộ luận) biểu lộ lòng quy kính Tam Bảo của chính mình và trình bày ý nghĩa vì sao tạo luận. Hai mươi mốt bài Kệ kế tiếp là nói tổng quát về sự tướng công đức trang nghiêm nơi y báo và chánh báo của Cực Lạc. Bài kệ cuối cùng là hồi hướng, phát nguyện vãng sanh Cực Lạc quốc. Nói quy nạp lại, toàn bộ phần Kệ Tụng cho đến phần Trường Hàng giải thích, phân tích ý nghĩa kinh văn, đều nhằm thuyết minh niệm Phật, quán tưởng y báo và chánh báo trang nghiêm của đức Di Đà như thế nào, khiến [những điều ấy] phân minh trước mắt [độc giả], do “an lập” mà “an trụ”, cuối cùng là thành tựu Niệm Phật tam-muội, đích thân thấy Phật Di Đà hoặc Tịnh Độ, tín tâm bèn kiên định, nguyện cùng với các chúng sanh đều cùng sanh về nước An Lạc, đạt bất thoái chuyển, viên mãn Bồ Đề ngay trong một đời…


 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây