ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC THIỀN SƯ NGỮ LỤC (TRỌN BỘ 30 TẬP) ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC THIỀN SƯ NGỮ LỤC (TRỌN BỘ 30 TẬP) Trọn Bộ 30 Quyển Trong 1
Tác Giả: Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo
Việt Dịch: Đặng Hữu Trí (Chánh Khải Huệ)
NXB: Hồng Đức
Khổ: 16x24cm
Số Trang: 925 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
Năm XB: 2021
Độ Dày: 4,4cm
DHPG Sách hồi ký 400.000 đ Số lượng: 1000010 Quyển
  • ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC THIỀN SƯ NGỮ LỤC (TRỌN BỘ 30 TẬP)

  •  376 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: DHPG
  • Giá bán: 400.000 đ

  • Trọn Bộ 30 Quyển Trong 1
    Tác Giả: Thiền Sư Đại Huệ Tông Cảo
    Việt Dịch: Đặng Hữu Trí (Chánh Khải Huệ)
    NXB: Hồng Đức
    Khổ: 16x24cm
    Số Trang: 925 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm Có Tay Gập
    Năm XB: 2021
    Độ Dày: 4,4cm


Số lượng
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục


LỜI NÓI ĐẦU

Đến với thiền sư Đại Huệ là đến với một cơ duyên hy hữu, được đắm mình trong chủ lưu tinh túy của dòng Tổ sư thiền Trung Hoa truyền thừa, với tông phong “khán thoại đầu” đặc sắc, có khả năng giúp người dễ dàng liễu đạt, qua phong thái của một bậc cao tăng giác ngộ, thật mẫu mực lão luyện, nhưng cũng lắm hư thực kỳ bí, đặc biệt trong thủ thuật thi thiết tiếp dẫn người học. Lúc tựa lão bà cà kê lao nhọc, tha thiết yêu thương, lúc như một lão hán tâm thần vô cớ vung gậy, huơ phất trần, đập cây bê, hất ngã giường thiền … lúc lại bất thần uy vũ quát hét như muốn vỡ toang mọi tình chấp sanh tử; rồi có lúc lại lặng lẽ an nhiên, tự tại như một hiền triết thông tuệ, vô ngại …

Đại Huệ húy Tông Cảo (1089-1163), sống vào đời Tống, họ Hề, tự là Đàm Hối, hiệu là Diệu Hỉ, còn gọi là Vân Môn hoặc Kính Sơn, người Ninh Quốc, Tuyên Châu (An Huy) Trung Quốc. Năm 17 tuổi, sư xuất gia, năm sau thọ giới cụ túc, lần lượt tham học với các ngài Động Sơn Vi, Trạm Đường Văn Chuẩn. Sau cùng sư đắc pháp nơi ngai Viên Ngộ Khắc Cần, nối pháp làm truyền nhân tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kì, được ngài Viên Ngộ trao cho bộ Lâm Tế chánh tông kí. Chưa bao lâu, Viên Ngộ phân tòa cho sư thuyết pháp, từ đó tùng lâm ngày càng hưng thịnh, danh tiếng sư vang khắp kinh đô.

Năm 1126, Thừa tướng Lữ Thuấn Đồ tâu vua ban cho sư cà-sa tía và hiệu Phật Nhật đại sư. Năm 1137, sư được thỉnh trụ trì chùa Năng Nhân ở Kính Sơn, người học các phương quy tụ về, tông phong cực thịnh. Lúc ấy Tần Cối đang lộng quyền, vì ganh ghét sư được sĩ đại phu ngưỡng mộ, vịn cớ sư có bàn việc triều chính với quan Thị Lang Trương Cửu Thành thuộc nhóm chủ chiến của triều đình, chống lại âm mưu nghị hòa với người Kim của Tần Cối, nên tâu vua lưu đày sư đến Hành Châu (Hồ Nam) năm 1141. Nơi đây sư tranh thủ soạn bộ Chánh pháp nhãn tạng 6 quyển. Đến năm 1150, sư bị đày tiếp đến Mai Châu, vùng sơn lam chướng khí, bệnh dịch hoành hành, cho nên đồ chúng trên 100 người chết hơn nửa, nhưng sư mới được ân xá. Năm 1158, sư vâng sắc chỉ trụ ở Kính Sơn, đạo-tục bốn phương ngày càng quy ngưỡng. Sư được vua Hiếu Tông ban hiệu Đại Huệ thiền sư.

Sư có biệt tài lưu toát, cơ phong sắc bén, tận lực cổ xúy pháp thiền công án, gọi là “Khán thoại thiền”. Pháp thiền này phát triển rực rỡ song song với pháp thiền mặc chiếu của Hoành Trí Chính Giác tông Tào Động. Viên Ngộ lúc phó pháp cho sư, nói: “Tông Cảo thật sự được pháp tủy của ta. Nếu ông ta không xuất đầu, thì tông Lâm Tế không ai điều khiển”. Sư thị tịch vào năm 1163, thọ 75 tuổi, 58 tuổi hạ, vua ban hiệu là Phổ Giác thiền sư. Đệ tử nối pháp hơn 90 người, sư để lại các tác phẩm Đại Huệ Phổ Giác thiền sư ngữ lục, Chánh pháp nhãn tạng, Đại Huệ tông môn vũ khố, Đại Huệ niên phổ … Về Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục, đây là một kiệt tắc có giá trị dẫn đạo vượt bậc trong giới Thiền Lâm, là tư liệu tham khảo quan trọng để thấm sâu vào pháp khán thoại đầu.

Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục khá đồ sộ, gồm 30 quyển, nội dung thâm viễn, lời lời đều phát lộ tinh hoa của Thiền tông đốn ngộ, nhưng cũng thật bình dị, đời thật, đối cơ mà linh hoạt thuyết giải, thực sự hữu ích đối với những ai quyết dứt bỏ mọi phàm tình chấp trước, một lòng hướng về cứu cánh giải thoát. Sách do Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo trước tác vào đời Nam Tống, thiền sư Tuệ Nhật Uẩn Văn biên tập, và tấu trình vua cho phép đưa vào Đại chính tạng mà trân trọng lưu truyền. Đại sư Ham Sơn trong MỘNG DU TẬP quyển 15, khi đọc ngữ lục của Đại Huệ có cảm rằng: “Trọn nhờ Đại Huệ, vui mừng vì đã vạch trần, mong sao được tự do tự tại cùng nắm tay với lão này đi, thật cũng phải khiến cho Phật-Tổ lui tránh 30 năm”. Nội dung ngữ lục 30 quyển, được chia làm 7 phần:

1 – NGỮ LỤC (quyển 1-9)
2 – TỤNG CỔ (quyển 10)
3 – KỆ TỤNG (quyển 11)
4 – TÁN PHẬT-TỔ (quyển 12)
5 – PHỔ THUYẾT (quyển 13-18)
6 – PHÁP NGỮ (quyển 19-24)
7 – THƯ (quyển 25-30)

Trước khi đi vào tìm hiểu Ngữ lục, cần phải nắm vững một số khái niệm cơ bản sau:

 
  • THIỀN TÔNG còn gọi là Phật tâm tông, Đạt-ma tông, Vô môn tông. Chỉ một tông phái Đại thừa lấy ngài Đạt-ma làm Sơ Tổ, nguyên cứu bản nguyên của tâm tánh để “kiến tánh thành Phật”. Đó là một trong 13 tông của Trung Quốc. Về truyền thừa, Thiền tông lấy câu chuyện đức Phật trong hội Linh Sơn giơ nhánh hoa và ngài Ca-diếp mỉm cười làm nguồn gốc. Ngài Ca-diếp được truyền thừa đầu tiên, tiếp nối qua 28 Tổ sư Thiền tông Ấn Độ, với vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma. Niên hiệu Phổ Thông (520-527) đời vua Lương Vũ Đế, Đạt-ma đến Trung Hoa truyền bá Thiền tông. Thiền tông Trung Hoa được xem như chính thức hình thành vào thời tiền Đường bởi những hoạt động truyền giáo của Tổ thứ 6 Huệ Năng và tác phẩm ĐÀN KINH của ngài. Sau đó Thiền tông phát triển cực thịnh, lần lượt xuất hiện hai hệ Thanh Nguyên và Nam Nhạc, năm nhà gồm Quy Ngưỡng Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, và hai phái Hoàng Long và Dương Kì trở thành dòng chính của Thiền Tông. Riêng 2 nhà Lâm Tế và Tào Động truyền một mạch đến sau đời Minh-Thanh.
 
  • Tông chỉ của Thiền tông là “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chi nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.

 
  • Về mặt tư tưởng, Thiền tông chủ trương loại bỏ sắn bìm ngôn ngữ văn tự, đề xướng việc chẳng đọc kinh, chẳng lạy Phật, chẳng cần khổ tu, chẳng cầu bên ngoài, kiến lập tinh thần “Tâm ấy là Phật, tâm bình thường là đạo”. Không cần tĩnh tọa xét tâm, mà ngay nơi các hoạt động bình thường như bửa củi, gánh nước, quét rác, ăn cơm … cũng có thể gọi là Thiền. Cơ bản là phải phá cho được ngã chấp.
 
  • Về mặt hoằng truyền diễn thuyết, thì dùng cơ pháp linh hoạt sống động để dẫn dắt người học, dùng các cơ dụng đánh, hét, giờ gậy, giờ phất trần … để tuyên dương tông phong.
 
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục 1

 
  • Thiền vốn không lập một pháp thật, không có gì để cho người nhận, chỉ cốt nhổ đinh tháo chốt, cởi mở tình chấp, khiến tự tâm sống dậy mà thôi. Chính vì thế, Thiền có những lời nói thoạt có vẻ trái tai, ngược đời, những thủ thuật khai thị táo bạo, vượt ngoài sức hiểu biết của tâm thức phân biệt thông thường.
 
  • Thiền tông của Đạt-ma thường gọi phái Thiền tông của miền Bắc của Thần Tú, hoặc pháp thiền tu theo lục độ vạn hạnh có tính cố cựu trong các kinh-luật-luận của Phật là NHƯ LAI THIỀN. Còn TỔ SƯ THIỀN là nhóm tu hành được truyền tâm ấn, với Sơ Tổ là Đạt-ma, chủ trương không y theo kinh – luật – luận, chỉ thi hành theo lối tâm truyền của Thầy Tổ để mau thành Phật. Theo Tổ sư thiền, thế nào là tham thiền? Tham tức là Nghi, Nghi là do không hiểu, việc gì đã hiểu rồi là hết nghi, hết nghi tức là không có tham. Cho nên tham thiền rất chú trọng cái nghi, gọi là NGHI TÌNH. Muốn khởi nghi tình, phải nhờ một CÂU THOẠI ĐẦU, hoặc một CÔNG ÁN, hay một NHÂN DUÊN để thiền giả KHÁN THOẠI ĐẦU (hoặc THAM THOẠI ĐẦU, hay nói các khác là THAM THIỀN).

TIỂU SỬ THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ TÔNG CẢO

Thiền sư ĐẠI HUỆ TÔNG CẢO ở Kính Sơn là đệ tử đắc pháp phái Dương Kì tông Lâm Tế đời Tống, tự là Đàm Hối, hiệu là Diệu Hỉ, còn có hiệu khác là Vân Môn. Sư người Tuyên Châu, họ Hề, bẩm tính thông minh, huệ căn nhiều đời sâu dầy. Năm 13 tuổi, sư được tiến cử vào học đường của trường làng chuyên tâm sách vở. Một hôm, sư nói với cha mình rằng: Đại trượng phu đọc sách vở của thế gian, đâu bằng xuất gia học tập phát xuất thế gian. Thế là sư liền lập đại nguyện “trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sanh”. Năm 17 tuổi, sư cạo tóc xuất gia với hòa thượng Huệ Tề Viện Tuệ Vân ở Đông Sơn.

TÌM THAM MINH SƯ

Sau khi xuất gia, sư duyệt khắp ngữ lục của các nhà, rất thích lời lẽ của Vân Môn và Mục Châu. Trong lúc duyệt đọc ngữ lục của các nhà, trong tâm khởi nghi hỏi: “Tông phái của 5 nhà nguyên sơ chỉ từ Đạt-ma, nhưng ở đâu mà lại có nhiều tông phái thế?”. Thế là sư khát khao cầu pháp, bèn từ biệt hòa thượng Huệ Tề đến Tuyên Châu, nương theo thiền sư Minh Giáo Thiệu Trình, đề xuất việc trước đây tham cứu niêm cổ, tụng cổ của thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển và nhân duyên ngộ đạo của các bậc cổ đức, cầu xin thiền sư Thiệu Trình chỉ dạy. Được thiền sư Thiệu Trình chỉ điểm, sư liền nhanh chóng thấu đạt thông suốt ý chỉ của bậc tiên đức. Sức huệ ngộ thấu triệt của sư khiến thiền sư Thiệu Trình phải khen rằng: “Cảo là một hóa thân đầu thai trở lại đấy!”.

Để tham ngộ được cái mà Thiền tông gọi là “Một việc hướng thượng”, sư lễ bái từ biệt thiền sư Thiệu Trình, băng núi lội sông, đến Dĩnh Châu tham bái 3 vị đại danh tăng đó là thiền sư Phù Dung Đạo Giai (khải), thiền sư Động Sơn Đạo Vi và thủ tọa Kiên. Sư ở dưới pháp tòa của 3 vị cao tăng này, siêng năng cố gắng học đạo, tinh tấn tham cứu, chẳng màng tháng năm, đắc trọn chỉ thú của tông Tào Động. Niêm hiệu Đại Quan thứ 3 (1107-1110), sư đến chùa Bảo Phong ở Lặc Đàm bái yết thiền sư Trạm Đường Văn Chuẩn là đệ tử nối dòng pháp của thiền sư Hoàng Long Tuệ Nam. Trong lúc hỏi đáp qua lại, Trạm Đường biết huệ căn của sư sâu dầy, có thể trở thành bậc anh tài, liền bảo làm thị giả. Khi có công án, Trạm Đường liền dùng mọi phương pháp tùy cơ mà giáo hóa. Đối với các loại câu hỏi của thiền sư Trạm Đường, sư tuy có thể đối đáp thông suốt, nhưng riêng với một việc tối hậu là tâm tánh thì trước sau chưa tùng tỏ ngộ. Trạm Đường từng trách mắng sư rằng:

 
  • Ông chưa từng ngộ, bệnh ở chỗ ý thức hiểu biết, đó chính là sở tri chướng!
Sư biết tâm từ bi thiết tha chỉ dạy của sư phụ dụng tâm rất khổ cực, thế là càng dụng tâm tham cứu. Một hôm, Trạm Đường nhuốm bệnh nặng, bệnh càng ngày càng nguy kịch, thuốc thang không còn tác dụng. Ngoài việc lo lắng bệnh tình của sư phụ, sư cũng muốn xin sư phụ từ bi chỉ cho chỗ đến sắp tới rằng:
  • Sau này đệ tử có thể nương vào một vị đại thiện tri thức nào để giải quyết việc lớn sanh tử?
Trạm Đường trả lời:
  • Có một vị là thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần, tuy ta không biết ngài, nhưng ông có thể đến nương theo mà học tập, ắt giải quyết được việc lớn sanh tử của mình.

Sau khi Trạm Đường viên tịch, sư ở trong đại chúng trong mong. Trước đó, sư đến yết kiến Tể tướng Trương Thương Anh xin soạn bào minh trên tháp-xá-lợi của thiền sư Trạm Đường, cuối cùng cũng được để lại một thiên bài minh trên tháp. Sư biện tài nhanh nhẹn, khiến Trương Thương Anh vô cùng khen ngợi, hai người đàm luận với nhau rất khế hợp, kết pháp duyên thù thắng. Sau khi lo việc chôn cất Trạm Đường xong, sư không quên lời ân cần thiết tha dặn dò trước lúc lâm chung của sư phụ, cùng lúc cũng được Tể tướng Trương Thương Anh tiến cử nên vội vàng lên phương Bắc đến Biện Kinh tham yết thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần.


VƯỢT BIỂN CẢ, LỘI NÚI SÔNG, TÌM THẦY HỎI ĐẠO ẤY THAM THIỀN

Sư trại qua ngàn núi muôn sông, lúc này tuy chưa tỏ ngộ “việc lớn sanh tử”, nhưng về sau sư lại được suy tôn đúng với tên của mình, vì Thiền lâm đời Tống ngày càng suy vi mà sư lại mở ra được một khung trời mới như mặt trời mới mọc từ phương Đông, tạo thành cảnh tượng tươi sáng rực rỡ khắp chốn chùa chiền của Thiền Tông….



TRÍCH ĐOẠN:

Sư là người Tuyên Thành, họ Hy. Mẹ chiêm bao thấy một vị Tăng mặt đen mũi cao có thần hộ vệ đến phòng.
Mẹ hỏi: Ông ở đâu?

Tăng ấy đáp: “Ở núi cao lớn này”, từ đó có nghén. Năm thứ 4 niên hiệu Nguyên Hựu, Vua Triết Tông đời Tống, sư sanh giờ tị, mồng 10 tháng 11, bạch quang thấu qua phòng, cả ấp đều cảm thấy kỳ lạ. Năm 16 tuổi sư xuất gia, 17 tuổi xuống tóc, rất ham việc của Thiền Tông, xem khắp ngữ lục của chư Tổ. Đối với 5 phái của Thiền Tông sư cảm thấy nghi ngờ: “Tại sao ban đầu chỉ có một tổ Đạt Ma mà nay lại có nhiều môn phái như vậy?”

Sư tánh tình phong lưu thanh nhàn, năm 19 tuổi du phương. Ban sơ đến am Bùi Độ thuộc quận Thái Bình, trụ trì tiếp đãi rất cung kính, nói: Hôm qua mơ thấy thần già lam bảo ngày mai có thiền sư Vân Phong Doạt đến, nên tiếp đãi tử tế. Khi ấy có một tôn túc nghe rồi đem ngữ lục của Doạt cho sư. Sư vừa xem qua liền tự tụng được, vì thế người ta cho là hậu thân của Vân Phong. Kế đó, sư đi yết kiến Tuyên Châu Trình thiền sư thỉnh ích về bài tụng của Tuyết Đậu. Trình chẳng nói một lời để sư tự kiến tự thuyết. Sư ngay đó thấu đạt ý chỉ. Trình than rằng: “Cảo ắt là người tái lai”.

Rồi sư qua Đại Dương gặp thủ tọa Nguyên, hòa thượng Di ở Động Sơn và thủ tọa Kiên. Sư qua lại với thiền hội ba ông này rất lâu, biết hết tông chỉ của Tào Động. Nhưng thấy họ đang khi truyền thọ nhau phải dùng hương đốt trên cánh tay để biểu thị sự phó pháp chẳng vọng, trong bụng nghĩ thầm rằng: “Thiền mà có truyền thọ như thế đâu phải là cái pháp tự chứng tự ngộ của chư Phật chư Tổ”, rồi bỏ đi tham vấn các nơi.

Khi đến chỗ Sơ hòa thượng chùa Phụng Thánh, gặp nhầm Sơ đang thượng đường, Sư ra hỏi: Theo lời hòa thượng nói “Kim Liên từ dưới đất nổi lên, Bảo Cái từ trên trời thòng xuống”, ấy là diệu dụng của thần thông hay là pháp tự vốn như thế?

Sơ đáp: Kim Liên từ dưới đất nổi lên, Bảo Cái từ trên trời thòng xuống.
Sư nói: Loan phụng chẳng đậu cây gai góc, chim yến còn luyến ở thời xưa.
Sơ nói: Ba năm chẳng gặp nhau bèn có đủ thứ việc.
Sư nói: Chỉ như tăng vừa nói “Ngày xưa Thế Tôn, hôm nay hòa thượng” lại là thế nào?
Sơ liền hét.
Sư nói: Một tiếng hét này chưa có chủ.
Sơ quay đầu lấy cây gậy hợi chậm.
Sư nói: Linh cơ như điện chớp đâu nhọc để suy tư.

Rồi vỗ tay một cái, trở về chúng. Sau đó đi tham bái Tâm Ấn Thuần Công, Thuần chỉ Sư đến Bảo Phong y chỉ Trạm Đường Chuẩn Công. Lúc Sư mới đến, tỏ ra cơ biện tung hoành. Một hôm Trạm Đường hỏi:

Lỗ mũi ngươi hôm nay vì sao mất hết nửa bên?
Sư đáp: Dưới cửa Bảo Phong.
Trạm Đường nói: Kẻ thiền bày đặt.

Một ngày kia ở chỗ tượng Thập Vương, Trạm Đường chỉ tượng hỏi: Ông quan này họ gì?

Sư đáp: Họ Lương (Trạm Đường họ Lương).
Trạm Đường dùng tay tự vò đầu nói: Chỉ tiếc họ Lương này thiếu cái nón.
Đáp: Dù không có nón, lỗ mũi giống hệt.
Trạm Đường nói: Kẻ thiền bày đặt.
Sư đang xem kinh, Trạm Đường hỏi: Xem kinh gì?
Đáp: Kinh Kim Cang.
Đường nói: Pháp ấy bình đẳng chẳng có cao thấp, tại sao núi Vân Cơ thì cao, núi Bảo Phong thì thấp?
Sư đáp: Pháp ấy bình đẳng chẳng có cao thấp.
Đường nói: Người làm được một đày tớ của tọa chủ (tọa chủ là pháp sư giảng kinh thuộc giáo môn).


 
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục 2


Một hôm sư đang đứng hầu, Trạm Đường nhìn thấy móng tay của Sư dài quá nên nói: Những miếng tre chùi đít trong nhà cầu chắc không phải ông rửa đâu? Sau khi nghe lời dạy của Trạm Đường, Sư suốt đời không để móng tay nửa. Vừa mới dài ra một chút mà không cắt thì thấy hòa thượng Trạm Đường xuất hiện ngay trên đầu ngón tay.

Một hôm Trạm Đường hỏi: Thượng tọa Cảo! Thiền ta ở đây ngươi đều hiểu được, bảo ngươi nói cũng nói được, bảo ngươi làm bài tụng hoặc tiểu tham, phổ thuyết ngươi cũng làm được, chỉ có một việc còn chưa được, ngươi biết chăng?

Sư hỏi: Việc gì?

Đường nói: Ngươi chỉ thiếu một tiếng “ồ”. Nếu ngươi chẳng được tiếng “ồ” này, khi nói chuyện trong phòng ta thì có thiền, khi ra khỏi thì hết, khi thức tỉnh thì có thiền, vừa mới ngủ liền hết. Nếu như thế làm sao địch với sanh tử được?

Sư nói: Chỗ này chính là chỗ nghi của ông ta đây.
Khi Trạm Đường sắp tịch, Sư hỏi: Sau khi hòa thượng tịch, ông ta phải y chỉ ai mới có thể liễu được việc lớn này?
Đường nói: Có ông Khắc Cần. Ta dù không biết ông ấy nhưng ngươi ắt phải y chỉ ông ấy mới có thể liễu được việc của ngươi.

Sau khi Trạm Đường tịch, Sư đến Kinh Nam yết kiến Trương Vô Tận (người đã kiến tánh), xin bài tháp minh (bài tán dương ghi ở tháp).

Trương hỏi: Ông chỉ mang đôi dép cỏ từ xa đến như thế này?

Sư nói: Ông ta hành cước từ mấy ngàn dặm đến gặp Tướng công.
Trương hỏi: Ông bao nhiêu tuổi?
Đáp: Hai mươi tám.
Trương lại hỏi: Con trâu bao nhiêu tuổi?
Sư đáp: Hai cái!
Trương lại hỏi nữa: Từ đâu học được cái giả dối này?
Sư đáp: Hôm nay thân gặp Tướng công.
Trương cười nói: Hãy ngồi uống trà.
Vừa ngồi xuống, Trương hỏi: Từ xa đến có việc gì?
Sư đến gần nói: Hòa thượng Trạm Đường thị tịch. Sau khi hỏa táng, con mắt răng và hột chuỗi chẳng hoại, xá lợi vô số. Xin đại thủ bút làm bài minh để khích lệ kẻ hậu học.
Trương nói: Có lời hỏi ông, nếu đáp được thì làm bài minh ghi tháp.
Sư nói: Xin Tướng công hỏi?
Trương nói: Nghe nói con mắt Trạm Đường chẳng hoại phải chăng?
Đáp: Phải.
Trương nói: Ta chẳng hỏi con mắt này.
Sư nói: Tướng công hỏi con mắt gì?
Trương nói: Con mắt kim cương.
Sư nói: Nếu nói con mắt kim cương tức là ở trên đầu bút của Tướng công.
Trương nói: Nếu vậy thì lão phu sẽ điểm ra ánh sáng khiến cho chiếu khắp thiên hạ.

Sư cảm tạ. Trương liền làm bài minh.
Sư đi yết kiến các thiền sư danh tiếng như linh nguyên, Thảo Đường, đều được họ tán thán. Thiền sư Giác Phạm xem bài tụng “Thập trí đồng chân” của sư:

Lông rùa sừng thỏ trồng trong mắt.
Núi sắt ngay mặt thất nguy nga.
Đông Tây Nam Bắc chẳng cửa vào.
Vô minh nhiều kiếp biến thành tro.

Rồi than rằng: Lạ thay, tôi công phu hai mươi năm cũng chỉ nói đến được chỗ này.

Sư trước khi gặp Viên Ngộ (tức là Khắc Cần) tự nghĩ rằng: “Lấy một hạ làm kỳ hạn. Nếu họ cũng vọng cho là ta đã đúng như các nơi khác thì ta sẽ tác bài Vô Thiền Luận để khỏi hao tinh thần, uổng qua ngày tháng”.

Khi đã gặp Viên Ngộ, Sư sớm chiều tham vấn. Viên Ngộ đem câu “Đông Sơn đi trên mặt nước” của Vân Môn cho Sư tham.

Sư trình qua 49 chuyển ngữ, Ngộ đều lắc đầu.

Một hôm Ngộ thăng tòa đề ra lời của Vân Môn rằng: Thiên Ninh thì chẳng như thế! Nếu có người hỏi “Thế nào là chổ xuất thân của chư Phật?” Chỉ đáp họ rằng “Gió nhẹ từ hướng nam đến thì cung điện tỏa hơi mát”.

Sư liền hoát nhiên tỉnh ngộ, bạch với Ngộ.

Ngộ xét Sư dù chứng đắc, được tướng động chẳng sanh, tiền hậu chấm dứt, nhưng lại ngồi chỗ trong sạch thanh tịnh, nên nói với Sư rằng: Ngươi đến được mức này cũng chẳng phải dễ, chỉ tiếc rằng chết rồi không sống lại, vì chẳng nghi ngữ cú là bệnh lớn. Phải biết “vực thẳm buông tay, thẳng tự thừa đương, tuyệt hậu tái tô (chết đi sống lại), gạt ông chẳng được”. Ngươi nên biết có đạo lý này.

Sư nói: Ông ta tùy chỗ chứng đắc hôm nay đã là sung sướng, đâu còn màng đến gì khác.

Ngộ bảo Sư: Làm tri khách! Hàng ngày chuyên tiếp đãi những ông quan trí thức.

Sư mỗi ngày vào phương trượng ba bốn lần, mỗi khi Viên Ngộ đề ra câu hỏi: “Hũu cú vô cú, như tầm dựa cây, bỗng tầm khô cây ngã thì cú đi về đâu?” Sư vừa mở miệng, Ngộ liền nói: “Chẳng phải!”.Như thế trải qua nửa năm, trong tâm niệm niệm chẳng quên. Một hôm cùng dùng cơm với khách, Sư cầm đưa trong tay mà quên và cơm vào miệng. Ngộ cười rằng: Ông này tham thiền như cây dương vàng bị co rút trở lại.

Sư nói: Lý này giống như con chó nhìn chảo dầu sôi, muốn nếm, nếm chẳng được, muốn bỏ, bỏ chẳng được.

Ngộ nói: Thí dụ này rất hay. Ấy tức là vòng kim cương, hạt có gai nuốt chẳng được ói chẳng được.

Một hôm Sư hỏi rằng: Nghe nói hòa thượng có hỏi Sư Ông về lời này, không biết khi ấy Sư ông nói chi?

Ngộ cười mà không đáp.

Sư nói: Khi ấy phải ở trong chúng hỏi. Bây giờ nói ra đâu có ngại gì?

Ngộ kể: Ta hỏi “Hữu cú vô cú, như tầm dựa cây” ý chỉ thế nào? Sư ông nói “Miêu tả chẳng được, vẽ cũng chẳng thành”. Tạ hỏi tiếp “Khi tầm khô cây ngã” thì thế nào? Sư ông nói “cứ đi theo tới vậy!”

Sư ngay đó hoát nhiên đại ngộ, nói: Ta hội rồi!

Ngộ bèn đề ra mấy công án đảo lộn để cật vấn. Sư trả lời không chút trệ ngại.

Ngộ nói “Nay mới biết ta không dối ngươi”. Rồi phó pháp Lâm Tế chánh tông cho Sư.

Sư đã triệt ngộ, lại đối với công án “mấy thiền khách” có nghi mà hỏi Viên Ngộ.


 
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục 3


Ngộ nói: Thiền ta đây giống như biển lớn, ngươi nên đem biển lớn đổ bỏ mới được. Nếu chỉ đem bình bát đựng được một chút cho là đủ, là do ngươi khí lượng nhỏ hẹp, ta cũng chẳng có cách nào. Thật ra cũng ít có người được đến chỗ điền địa như ngươi. Trước kia chỉ có thượng tọa Cảnh Ngộ bằng như ngươi nhưng đã chết rồi.

Viên Ngộ cho Sư ngồi tọa phó, cầm cây gậy để khám xét thiền giả.

Thiền giả từ các tòng lâm tấp nập quy tụ theo Sư học hỏi.

Sư xem kinh Hoa Nghiêm đến lời văn Bát Địa, thấu triệt được công án khi xưa “hỏi Trạm Đường về nhân duyên Ương Khoát vâng lời Phật cứu sản nạn (sinh khó)“.

Trước kia Sư dùng lời này để hỏi Trạm Đường, Trạm Đường nói: Chính là gãi đúng chỗ ngứa của ta. Lời này là pháp vàng với phẩn, chẳng hội như vàng, hội được như phẩn.

Sư nói: Há chẳng có phương tiện ư?

Đường nói: Ta có cái phương tiện, chỉ e ngươi không hội.

Sư nói: Xin hòa thượng từ bi chỉ dạy.

Đường nói: Vương Khoát rằng “Ta mới nhập đạo chưa biết pháp này, đợi ta đi hỏi Thế Tôn”. Nếu khi chưa đến chỗ Phật mà nhà họ đã sanh ra đứa con thì sao? “Ta từ pháp hiền thánh đến nay chưa từng sát sinh”. Khi Ương Khoát đem lời này chưa đến nơi, nếu nhà họ đã sanh đứa con thì sao?

Sư cảm thấy mịt mù.

Đến bây giờ đọc kinh đến chỗ Bồ Tát lên đệ thất địa chứng vô sanh pháp nhẫn rồi nói: Phật tử! Bồ Tát thành tựu nhẫn này tức thì đắc nhập Bất Động Địa, bậc Bồ Tát thứ tám. Ấy là thâm hạnh Bồ tát, rất khó biết, chẳng sai biệt, lià tất cả tướng, tất cả tưởng, tất cả chấp trước, vô lượng vô biên, tất cả Thanh-Văn, Bích Chi Phật đều chẳng thể đến, lìa những ồn ào tranh biện, tịch diệt hiện tiền. Ví như Tỳ Kheo thần thông đầy đủ, được tâm tự tại, lần lượt cho đến nhập Diệt Tận Định, tất cả động tâm ghi nhớ, tư tưởng phân biệt thảy đều ngưng nghỉ, Bồ Tát Ma Ha Tát này cũng như thế. Trụ nơi Bất Động Địa liền xả tất cả công dụng, hành pháp vô công dụng, thân khẩu ý nghiệp niệm niệm đều dứt. Trụ nơi báo hạnh, ví như có người trong mộng thấy thân rớt xuống sông vì muốn qua sông nên phát đại dũng mãnh, dùng đại phương tiện, do đại dũng mãnh và đại phương tiện đó liền được tỉnh ngộ, đã giác ngộ xong, tất cả việc làm đều hết, Bồ Tát cũng vậy, thấy thân chúng sanh trôi nổi giữa sông, vì muốn cứu độ, phát đại dũng mãnh, khởi đại tinh tấn, nhờ dũng mãnh tinh tấn đó được đến chỗ bất động địa này, đã đến đây rồi thì tất cả công dụng thảy đều ngưng nghỉ, hai hạnh tướng và hành đều chẳng hiện tiền. Khi ấy tâm của Bồ Tát Ma Ha Tát này đối vối Phật tâm, Bồ Đề tâm, Niết Bàn tâm có chẳng sanh khởi huống là sanh khởi những tâm thế gian”.

Sư xem đến đây hoát nhiên đánh mất túi vải (chứng ngộ triệt để).

Lời phương tiện của Trạm Đường bỗng nhiên hiện tiền.

GHI CHÚ:

Công án “mấy thiền khách”: Pháp Giảng thiền sư ngộ chưa triệt để. Thầy là Bạch Vân thiền sư dùng phương tiện rằng: Có mấy thiền khách từ Lư Sơn đến đều có chỗ ngộ nhập. Bảo y nói cũng nói được có lý do, đem những nhân duyên hỏi y ý cũng rõ được, bảo y hạ chuyễn ngữ, y cũng hạ được, nhưng mà chưa đắc. Pháp Giảng do đó đại nghi, tự nghĩ thầm: Đã ngộ rồi, nói cũng nói được, rõ cũng rõ được, tại sao lại chưa đắc? Bèn tham cứu suốt ngày bỗng nhiên tĩnh ngộ, việc quý trọng xưa kia ngay đó buông sạch, liền được Bạch Vân ấn chứng. Sư sau này nói với người rằng: Ta do đó cả thân xuất mồ hôi trắng, liền rõ được thanh phong khúc dưới (phá mạt hậu quan). Ghi chú hết.

Viên Ngộ làm trụ trì núi Vân Cư, thỉnh Sư làm thủ tọa. Ngày đông chí, Sư thăng tòa, có thiền sư Nguyên ra hỏi: Khi trên lông mày treo kiếm là thế nào?
Sư Đáp: Máu tạt trời Phạm Thiên!
Ngộ đang ngồi dưới tòa giơ tay khen ngợi rằng: Câu hỏi rất hay, câu đáp lại hay hơn nữa!
Nguyên liền trở về chúng.

Sư mỗi lần nhập thất (nhập thất: để cho tăng chúng vào phòng thăm hỏi), Viên Ngộ thường đến nghe. Một hôm nhập thất xong, Sư lên phương trượng, Ngộ nói: Nếu có một thiền giả được như lão tăng thì ngươi sẽ đối đáp như thế nào?

Sư nói: Vậy là may quá. Cũng như Tô Đông Pha nói “Làm suốt đời đao phủ thủ mới được gặp một ông mập để chém”.

Ngộ cười ha hả rằng: Vậy thì ngươi nhập thất cho ta, bức bách khiến ta leo vách tường xem!

Rồi Ngộ hỏi: Đạt Ma đến, đem gì truyền thọ?

Sư Đáp: Đâu thể trọn cho là kiến giải hồ ly tinh.

Ngộ hỏi nữa: “Nắm đầu hổ, bắt đuôi hổ, thấu tông chỉ dưới câu thứ nhất”, thế nào là câu thứ nhất?

Đáp: Đó là câu thứ nhì!

Ngộ thường nói với chúng: Gần đây thiền hội các nơi đều thành hang ổ. Dưới thiền hội núi Ngũ Tổ, ta với Phật Giám, Phật Nhãn ba người cùng nhau tham thiền. Nay đã thấy xuất hiện nhiều yêu quái. Dưới thiền hội Phật Giám có một hạng người làm con chó sủa, bồ câu kêu, khiến thiên hạ cười. Dưới thiền hội Phật Nhãn cũng có một hạng người làm bộ vẻ nhìn đồn điền, cây cột, chỉ đông chỉ tây, giống như trước mắt thấy ma quỷ. Ở đây thì chẳng có hai thứ bệnh này.

Sư nói: Đập đá lửa, chớp tia sáng, làm cho nhiều người đuổi theo nghiệp thức, thầy vừa đề ra thì trò ngay đó hiểu liền, há chẳng phải là lọt vào hang ổ lớn của Phật pháp ư!

Ngộ bất giác le lưỡi, nói rằng: Chớ nên màng đến họ. Ở đây chỉ lấy chứng ngộ làm tiêu chuẩn. Nếu chẳng chứng ngộ ta nhất định chẳng thả cho qua.

Sư nói: Chứng ngộ thì được. Nếu thầy vừa đề ra trò liền ngộ, cứ truyền nhau mãi như thế lấy đập đá lửa, chớp tia sáng là đúng làm cho nghiệp thức mang mang đến ngày nào mới hết.

Ngộ liền ấn chứng cho.


GHI CHÚ:

Nhân duyên Ương Khoát cứu sản nạn:

Ương Khoát đang đi khất thực, đến nhà sản nạn. Nhà ấy cầu Ương Khoát cứu giúp, Ương Khoát nói: Tôi mới nhập đạo chưa biết pháp này, đợi tôi đi hỏi Thế Tôn đã.

Liền về hỏi Phật, Phật bảo: Ngươi đến trước sản phụ nói “Ta từ pháp hiền thánh đến nay chưa từng sát sanh” thì sẽ xong việc.

Ương Khoát nói y lời Phật, sản phụ nghe được liền sanh con dễ dàng.


PHỒ THUYẾT

Sư thăng tòa đốt hương rằng: “Nén hương này thấy được thì con mắt khô, ngửi được thì bộ óc nứt. Gặp quí thì giá bằng cõi ta bà, gặp tiện thì rẻ hơn đồng xu. Hôm nay trước mặt Trời Người đốt trong lư, dùng để thù đáp pháp nhủ của ân Sư (là Viên Ngộ Đại Hòa Thượng)”. Nói xong an tọa.

Đệ tử thượng thủ bạch dùi rằng: Chúng long tượng trong pháp hội nên quán Đệ Nhứt Nghĩa Đế…

Kế đó trải qua nhiều lời giải đáp cho các tăng tấp nập ra hỏi, nhưng vẫn còn nhiều tăng giành ra hỏi nữa, Sư cho tạm ngưng rồi nói: Giả sử cả đại địa đều nghiền thành vi trần, mỗi vi trần đều có một miệng, mỗi miệng đều đủ tướng lưỡi rộng dài, mỗi lưỡi đều đủ tướng âm thamh sai biệt, mỗi tướng âm thanh sai biệt đều có vô lượng lời nói sai biệt, mỗi lời nói đều có vô lượng lời nói sai biệt, mỗi lời nói đều có vô lượng diệu nghĩa sai biệt. Có nạp tăng nhiều như số bụi trần kể trên, mỗi tăng đều có miệng như thế, có lưỡi như thế, có âm thanh như thế, có diệu nghĩa như thế, cùng một lượt đề ra muôn ngàn vấn nạn đều khác biệt, chỉ cần sơn tăng tằng hắng một tiếng thì nhất thời giải đáp xong. Ngay lúc ấy còn làm thêm vô lượng vô biên quảng đại Phật sự, mỗi mỗi Phật sự đều cùng khắp pháp giới, gọi là một lỗ chân lông hiện vô lượng thần biến, tất cả Phật đồng thời thuyết kinh, nơi vô lượng kiếp cũng chẳng tìm được bờ bến, dù được. Nếu dùng chánh nhãn mà xem thì chính là nghiệp thức mang mang, chẳng có nguồn gốc để căn cứ. Theo cửa thiền của Tổ Sư, một chút cũng dùng không được, huống là bày đặt văn chương để hiển lộ biện tài, chẳng những chôn vùi truyền thống thiền tông từ xưa nay, mà còn làm cho nạp tăng cười bể lỗ mũi. Cho nên nói, một mảy may hệ niệm thì rơi vào tam ác đạo, tình thức bỗng sanh thì muôn kiếp bị trói, danh hiện thánh phám đều là tiếng hư vọng. Hình tướng xấu đẹp đều là ảo sắc. Ngươi muốn tìm cầu lại thêm lao nhọc. Nếu là nhàm chán lại thành họa lớn. Thử xem cổ đức dạy bảo như thế. Như binh khí của nhà nước bất đắc dĩ mới đem dùng, trên bổn phận của nạp tăng cũng không có việc này. Sơn tăng hôm nay nói ra như thế cũng như không mộng mà thuyết mộng, trên da lành mà tự cắt làm sẹo. Kiểm điểm ra thực là đáng ăn gậy. Trong chúng có ai đáng mặt cầm gậy hạ độc thủ chăng? Nếu có thì xứng đáng báo được các ơn chẳng thể báo, cùng nhau thu nhiếp sự giáo hóa của vô vi. Nếu không thì lệnh này đảo ngược rồi vậy…


 
đại huệ phổ giác thiền sư ngữ lục 4


MỤC LỤC:

LỜI NÓI ĐẦU (15)
TIỂU SỬ THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ TÔNG CẢO (25)
TẤU THƯ DÂNG SÁCH “ĐẠI HUỆ THIỀN SƯ NGỮ LỤC” LÊN TRIỀU ĐÌNH XIN NHẬP ĐẠI TẠNG (37)
QUYỂN THỨ 1: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN KÍNH SƠN (39)
QUYỂN THỨ 2: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN KÍNH SƠN (83)
QUYỂN THỨ 3: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN KÍNH SƠN (121)
QUYỂN THỨ 4: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN KÍNH SƠN (155)
QUYỂN THỨ 5: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ CHÙA THIỀN QUẢNG LỢI DỤC VƯƠNG (193)
QUYỂN THỨ 6: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC TÁI TRỤ THIỀN VIỆN NĂNG NHÂN KÍNH SƠN (229)
BÀI MINH TRÊN PHÁP THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (256)
QUYỂN THỨ 7: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ AM VÂN MÔN GIANG TÂY (263)
QUYỂN THỨ 8: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC TRỤ AM DƯƠNG TỰ PHƯỚC CHÂU (291)
NGỮ LỤC Ở AM VÂN MÔN TIỂU HOÁT TUYỀN CHÂU (298)
QUYỂN THỨ 9: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC LÚC Ở LIÊU THỦ TỌA VÂN CƯ THƯỢNG  ĐƯỜNG THUYẾT PHÁP (325)
CƠ DUYÊN TRONG THẤT (350)
QUYỂN THỨ 10: NGỮ LỤC CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (361)
TỤNG CỔ (361)
QUYỂN THỨ 11: KỆ TỤNG CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (417)
QUYỂN THỨ 12: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC TÁN PHẬT-TỔ (441)
THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC TỰ TÁN (465)
QUYỂN THỨ 13: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (497)
QUYỂN THỨ 14: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (519)
QUYỂN THỨ 15: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (553)
QUYỂN THỨ 16: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (585)
QUYỂN THỨ 17: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (609)
QUYỂN THỨ 18: THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC PHỔ THUYẾT (633)
QUYỂN THỨ 19: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (651)
QUYỂN THỨ 20: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (673)
QUYỂN THỨ 21: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (695)
QUYỂN THỨ 22: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (717)
QUYỂN THỨ 23: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (741)
QUYỂN THỨ 24: PHÁP NGỮ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (765)
QUYỂN THỨ 25: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (789)
QUYỂN THỨ 26: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (811)
QUYỂN THỨ 27: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (831)
QUYỂN THỨ 28: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (857)
QUYỂN THỨ 29: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (879)
QUYỂN THỨ 30: THƯ CỦA THIỀN SƯ ĐẠI HUỆ PHỔ GIÁC (905)
DÂNG TẤU TRÁP CẢM TẠ CHIẾU CỐ BAN CHO SÁCH “ĐẠI HUỆ THIỀN SƯ NGỮ LỤC” NHẬP TẠNG (925)


 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây