KINH KIM QUANG MINH - THÍCH NGUYÊN CHƠN KINH KIM QUANG MINH - THÍCH NGUYÊN CHƠN Biên Dịch: Thích Nguyên Chơn
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Số Trang: 499 Trang
Bìa: Mềm – Có Tay Gập
Khổ Sách: 16x24cm
Năm Xuất Bản: 2018
Độ Dày: 2,7cm
KQM2 KINH TỤNG 150.000 đ Số lượng: 4 Quyển
  • KINH KIM QUANG MINH - THÍCH NGUYÊN CHƠN

  •  309 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: KQM2
  • Giá bán: 150.000 đ

  • Biên Dịch: Thích Nguyên Chơn
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Số Trang: 499 Trang
    Bìa: Mềm – Có Tay Gập
    Khổ Sách: 16x24cm
    Năm Xuất Bản: 2018
    Độ Dày: 2,7cm


Số lượng
Thay Lời Tựa
Kính lễ Đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni!
Kính lễ các vị Đại Bồ-tát, các Hiền thánh tăng trong mười phương!
Kính lễ các vị Thiện tri thức!
Đối với yếu chỉ trong kinh điển Đại thừa, thật không có chỗ cho con mở miệng hay đặt bút, bởi kinh nói như thế mà ý chẳng phải thế, lời như vậy mà nghĩa chẳng phải như vậy, chỉ có thể dùng tám chữ “chẳng thể nghĩ suy, chẳng thể luận bàn” để tỏ bày và cúi đầu đảnh lễ, tuân phụng hành trì mà thôi! Nhưng muốn cho người đọc nhận biết đúng nghĩa kinh, ý Phật nên con mượn ngôn từ chư Tổ để thay cho lời Tựa.


 
kinh kim quang minh min


Trong bộ Kim Quang Minh huyền nghĩa, đại sư Thiên Thai Trí Giả (538-597 Khai Tổ Tông Thiên Thai) ghi: “Kinh Kim Quang Minh sâu xa vô lượng, hư không còn chẳng cao rộng bằng, thì dùng trọng lượng của Tu-di và số lượng giọt nước biển lớn có thể sánh biết giới hạn sao? Như ánh sáng mặt trời chói rực, trẻ con không thể nhìn vào; đài cao trên thuyền lớn, người mẹ vừa sinh con đâu đủ sức đảm đương. Hành xứ của chư Phật thanh tịnh hơn cả hạnh tu của Bồ-tát, thì tâm khẩu của Nhị thừa đâu thể nào nghĩ suy, diễn đạt!

Còn hàng phàm phu, nếu muốn nói thì sẽ làm tổn thương chân tính; muốn im lặng thì phạm sai lầm. Nói hay im lặng đều không thể. Vì muốn dùng lời để diễn đạt cũng không được, muốn dùng im lặng để tỏ bày cũng không được, cho nên trong kinh Đại Niết-bàn, Phạm chí nói: “Vì không thể nội quán cho nên chứng Bồ-đề, vì không thể ngoại quán cho nên chứng Bồ-đề, vì chẳng thể nội ngoại quán cho nên chứng Bồ-đề. Kinh cho rằng đối với bồ-đề thì chẳng thể dùng tâm suy nghĩ, dùng lời luận bàn. Lại nói: ‘sinh mà sinh chẳng thể nghĩ bàn, sinh mà bất sinh chẳng thể nghĩ bàn, bất sinh mà sinh chẳng thể nghĩ bàn, bất sinh mà bất sinh chẳng thể nghĩ bàn, nhưng vì có nhân duyên, nên cũng có thể nghĩ bàn’.


 
kinh kim quang minh 1 min


Nay kinh này lấy Kim (vàng) làm tên gọi, thì tên gọi đứng đầu trong các kinh; lấy pháp tính làm thể, thì sở nhập của Phật trang nghiêm; lấy công đức sâu mầu của Bồ-tát làm tông; lấy việc chiếu soi chư thiên khiến sinh tâm hoan hỉ làm dụng; đã gọi là Kinh vương, thì giáo gồm thâu các kinh khác. Có thể biết, kinh này lấy vật báu làm tên, lấy quả cùng tột làm thể, lấy công đức sâu xa làm tông, lấy đại làm dụng, lấy vương làm giáo, từ thể Bất nhị mà chi bốn phần. Kinh này được Phật Thế Tôn bảo vệ, chư Phật trong mười phương ba đời cũng thế; tất cả các Bồ-tát khắp nơi kính lễ, thọ thần thiện nữ tuôn lệ mà tán dương; chư thiên dùng uy trời che chở, địa kì dùng chất màu mỡ để tưới nhuần; lại thêm Đại Biện giúp cho tài biện, Công Đức ban cho tài bảo, khiến các cõi hết khô cằn, ba đường tiêu nóng bức.

Tóm lại, tất cả những việc xưa nay chưa từng xuất hiện ở thế gian, thì nay đã xuất hiện. Vì thế người giảng nói kinh này, Kim Long tôn chủ ba đời ca ngợi, Địa thần phát nguyện hộ trì. Thánh chúa đã như thế, huống gì thứ dân mà muốn bỏ đạo này sao? Thật muốn nương vào nghĩa này để luận thuật ý kinh, mong vài giọt sương rơi vào biển cả, đồng thành vị mặn; tất cả chim chóc trở về rừng sâu, đều biến một sắc màu”


 
kinh kim quang minh 2 min


Lại nữa, Từ Giác Đại Sư luận về kinh này như sau: “Linh tâm bặt đối đãi, dứt sạch muôn vật mà độc tồn; diệu hạnh khó nghĩ bàn, luôn tùy duyên mà hiện khắp. Đó chính là: chân như pháp tính chẳng dính mảy trần, trong sự tướng môn không bỏ một pháp. Cho nên, Như Lai xuất thế thuyết kinh Kim Quang Minh, dạy nương tâm thanh tịnh để lập hạnh giải thoát. Ngài bày ra kinh điển xuất trần, muốn vĩnh viễn quét sạch mê tình; chỉ cho kho tàng bảo vương, mong chóng thành tựu trọn vẹn đại dụng.

Phàm định Bồ-tát Tín Tướng làm người khởi giáo, tức nêu Bồ-tát chẳng kẹt nơi hạnh Không; nơi Kiên Lao địa thần có bài tụng Tán không, thì hiển pháp thân chẳng thể cầu nơi hữu tướng. Tính tướng dung thông, hữu vô đồng lập, đó là yếu nghĩa của kinh này vậy. Đến như nói về bản nguyên pháp tính chư Phật, là để định nguồn thọ lượng của Như Lai; ánh sáng chiếu khắp tam thiên, tức phát dương môn Nhất thiết trí; trống vàng xuất âm, là hiển thị vô biên diệu dụng; đây chính là gốc khởi hạnh của Bồ-tát.


 
kinh kim quang minh 3 min


Sám trừ tội chướng vốn là pháp môn như mộng, ca ngợi Như Lai là nêu diệu quả tu hành. Ma-ha Tát-đỏa thí thân cho hổ đói, thật là khéo xả khéo tu; trưởng giả Lưu Thủy cứu đàn cá, thật có chung có thỉ, đây tức là hạnh nương chân tính của Bồ-tát vậy. Thí như mặt trăng treo trên hư không, bóng trăng chìm trong vô số dòng nước; vàng ròng tạo thành vật dụng, thể chỉ một mà tướng trạng có muôn nghìn. Thật là chủ bạn viên dung, nhất đa tự tại. Nếu có thể nơi một pháp mà thụ nhận tất cả pháp, thì mới tin bí tạng của Như Lai thật là xe báu cho ba cõi, là môn trang nghiêm tính hải, là nền tảng hướng đến Giác Vương. Vì thế mười nghìn vị trời nghe kinh này, liền đốn chứng Bồ-đề; chúng sinh nào thể nhập đều đồng được một vị cam lộ. Thế thì, thấy nghe tùy hỉ, đọc tụng, thụ trì, nơi một niệm thấu suốt được pháp môn Vô thượng, mà cho là duyên nhỏ sao? Kính xin pháp lữ tư duy kĩ ý Phật”.

Trong bộ Kim Quang Minh kinh sớ, ngài Cát Tạng cũng đã nói: “Pháp thân rỗng lặng mà thọ mạng có ngắn dài, bậc Chí nhân bặt nghĩ suy nhưng có cảm liền ứng. Bởi đấng Đại Giác lập phương tiện tùy cơ duyên thuyết pháp, nên có việc bốn Phật hiện nơi thất, luận yếu chỉ thường trụ, Bồ-tát cảm mộng lành chỉ bày pháp sám hối. Nhân chỉ có hai thiện mà tổng gom muôn hạnh, quả đạt đến bồ-đề mà thọ lượng sánh hư không. Vì thế hàng Bồ-tát Thập địa tu theo lí này, bốn vị thiên vương đồng ca ngợi và bảo vệ. Lại nữa, y kinh giảng thuyết chướng nạn tiêu trừ, nương pháp nguyện cầu phúc lạc tùy tâm. Cho nên kinh này lấy chính pháp trung đạo làm thể, ba điểm – bốn đức làm tông vậy.


 
kinh kim quang minh 4


Nếu phiên đầy đủ theo âm tiếng Phạn, thì tên bộ kinh này là Phật-đà bàn-già tu-bạt-na-bà-la-tu tu-đa-la. Trong đó, Phật-đà, Trung Quốc dịch là Giác, bàn-già là thuyết, tu-bạt-na-bà-la-bà-tu là Kim Quang Minh, tu-đa-la gồm năm nghĩa, nhưng ở đây chọn lấy nghĩa Kinh. Kinh nghĩa là pháp, là thường, là do; vì thế nên gọi là Kinh Giác thuyết Kim Quang Minh, hay Kinh Kim Quang Minh. Kinh này xếp vào tạng Đại thừa Bồ-tát, thuộc về Đốn giáo. Nếu nói đến chỗ cùng tột, thì kinh này trình bày ba loại ba pháp:
1, ba thân quả Phật
2, ba đức niết-bàn
3, ba loại Phật tính.

Trong đó thể của vàng (Kim) là chân thật dụ cho Pháp thân, dụng của ánh sáng (quang) là chiếu soi dụ cho Ứng thân, sự sáng (minh) làm lợi ích cùng khắp du cho Hóa thân. Bốn đặc tính từ thể của vàng (Kim) dụ cho bốn đức của Pháp thân:
1, màu sắc không biến đổi tức là thường;
2, không nhiễm ô tức là tịnh;
3, tùy ý chuyển đổi, tạo các vật dụng một cách vô ngại tức là ngã;
4, làm cho người trở nên giàu có tức là lạc.


 
kinh kim quang minh 5


Hai đặc tính của ánh sáng (quang) là năng chiếu và năng trừ dụ cho bát-nhã; hai đặc tính của sự sáng (minh) là không tối tăm và rộng xa dụ cho giải thoát, không còn các nỗi lo sợ. Thể của vàng (Kim) vốn có dụ cho Chính nhân trước khi ngộ đạo; dụng ánh sáng (quang) mới có dụ cho Liễu nhân trong lúc chứng đạo; sáng (minh) thì không tối dụ cho cực quả sau khi chứng đạo. Vì dùng ba đặc tính của vàng dụ cho ba loại ba pháp, nên gọi là Kinh Kim Quang Minh”. Trên đây là ba đoạn Huyền nghĩa của ba Đại sư đại biểu cho ba tông: Thiên Thái, Thiền Tịnh, Tam Luận, nội dung bàn về chỗ cùng tột của Kinh Kim Quang Minh. Kính xin các hành giả để tâm xem đọc.
Nguyên Chơn, kính thuật. (Mùa An cư năm Kỉ Sửu)


 
kinh kim quang minh 6 min



Mục Lục:
Thay Lời Tựa
Kinh Kim Quang Minh – Nghi Thức Tụng Niệm
Quyển 1
  • Phẩm 1: Tựa
  • Phẩm 2: Thọ Lượng Của Như Lai
Quyển 2
  • Phẩm 3: Phân Biệt Ba Thân
  • Phẩm 4: Mộng Thấy Trống Vàng Phát Tâm Sám Hối
Quyển 3
  • Phẩm 5: Diệt Trừ Nghiệp Chướng
Quyển 4
  • Phẩm 6: Tịnh Địa Đà-La-Ni
Quyển 5
  • Phẩm 7: Bài Tán Liên Hoa Dụ
  • Phẩm 8: Đà-La-Ni Kim Thắng
  • Phẩm 9: Giảng Lại Tính Không
  • Phẩm 10: Nương Không Đạt Nguyện
  • Phẩm 11: Tứ Thiên Vương Quán Sát Trời Người
Quyển 6
  • Phẩm 12: Tứ Thiên Vương Hộ Quốc
Quyển 7
  • Phẩm 13: Đà-La-Ni Không Nhiễm Trước
  • Phẩm 14: Như Ý Bảo Châu
  • Phẩm 15: Thiên Nữ Đại Biện Tài (1)
Quyển 8
  • Phẩm 15: Thiên Nữ Đại Biện Tài (2)
  • Phẩm 16: Thiên Nữ Đại Cát Tường
  • Phẩm 17: Thiên Nữ Đại Cát Tường Tăng Trưởng Tài Vật
  • Phẩm 18: Địa Thần Kiên Lao
  • Phẩm 19: Đại Tướng Dạ-Xoa Chính Liễu Tri
  • Phẩm 20: Vương Pháp Chính Luận
Quyển 9
  • Phẩm 21: Thiện Sinh Vương
  • Phẩm 22: Chư Thiên Và Dạ-Xoa Hộ Trì
  • Phẩm 23: Thọ Kí
  • Phẩm 24: Trừ Bệnh
  • Phẩm 25: Trưởng Giả Tử Lưu Thủy
Quyển 10
  • Phẩm 26: Xả Thân
  • Phẩm 27: Bồ-Tát Mười Phương Ca Ngợi
  • Phẩm 28: Bồ-Tát Diệu Tràng Ca Ngợi
  • Phẩm 29: Thần Cây Bồ-Đề Ca Ngợi
  • Phẩm 30: Thiên Nữ Đại Biện Tài Ca Ngợi
  • Phẩm 31: Phó Chúc
  • Phụ Lục
Chú Thích (Endnotes)


 
thông tin cuối bài viết 2

 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây