Lời Giới Thiệu
Luận Du Già Sư Địa (Phạn: Yogacarabhumi-satra), tác giá là Bồ tát Di Lặc (Maitreya) thuyết giảng, Đại sĩ Vô Trước (Asanga) ghi chép, Hán dịch là Pháp sư Huyền Tráng (602 -664), gồm 100 quyển (ĐTK/ĐCTT, Tập 30, Nº 1579, trang 279 – 882A). Đây là một trong ba Bộ Luận thuộc loại đồ sộ bậc nhất hiện có trong Hán Tạng (*), là một trong những tác phẩm căn bản nhất của Tông Duy Thức – Pháp Tướng, là một trong các Bộ Luận nổi tiếng nhất của Phật giáo Bắc truyền thuyết minh quảng diễn rất đầy đủ về Địa Bồ tát, với những quá trình nhận thức, hành trì, tu tập chứng đắc đạo quả Bồ đề vô thượng của Bồ tát Đại thừa. Du Già (Yoga) là từ phiên âm, dịch nghĩa là Tương ưng. Đó là pháp hành quán dựa vào phương thức điều hòa hơi thở để tập trung tâm niệm vào một điểm, lấy việc tu Chỉ – Quán (Xa ma tha, Tỳ bát xá na) làm chính, nhằm đạt tới chỗ nhất trí, tương ưng hài hòa giữa tâm cảnh. Người thực hành pháp quán Du Già gọi là Sư Du Già. Cảnh giới mà Sư Du Già dựa vào để thực hành gọi là Địa của Sư Du Già. Theo Đại sư Khuy Cơ (632 – 682) trong Thành Duy Thức Thuật Ký thì Tương ưng có 5 nghĩa: Tương ưng với Cảnh: Tức không trái với tự tánh của tất cả các pháp. Tương ưng với Hành: Nghĩa là cùng với các hành như định, tuệ tương ưng. Tương ưng với Lý: Tức tương ưng với lý an lập, phi an lập nơi hai đế. Tương ưng với Quả: Nghĩa là có thể chứng đắc đạo quả Bồ đề vô thượng.
Tương ưng với Căn cơ: Tức đã đạt được quả viên mãn thì cứu độ tạo lợi ích cho chúng sinh theo cơ duyên ứng – cảm, thuốc bệnh tương ứng. Luận Du Già Sư Địa mô tả pháp quán của Hành. Già (Yogacàra) chủ trương đối tượng khách quan chỉ là hiện tượng giả hiện của Thức A lại da (Àlaya – vijnàna) thuộc tâm thức căn bản của loài người cần xa lìa những quan niệm đối lập như có – không, tồn tại — không tồn tại... thì mới có thể ngộ nhập trung đạo (Phật Quang ĐTĐ trang 5531 B-C). Thật ra thì đấy chỉ là những tóm tắt về các điểm chính yếu của Luận, vì nơi mỗi phần, nơi mỗi Địa của Luận, các chi tiết hiện có cùng liên hệ đã được nêu bày và quảng diễn là hết sức bao quát, phong phú.
Vì Luận đã giải thích rộng về 17 Địa, là đối tượng nương dựa, đối tượng hành trì của Sư Du Già, nên Luận còn gọi là Luận Thập Thất Địa. Lại do nơi 17 Địa ấy, 2 Địa được thuyết minh cùng quảng diễn đầy đủ hơn hết là Địa Thanh văn và Địa Bồ tát, nên Luận được xem là một kho báu lớn cho việc nghiên cứu tìm hiểu về tư tưởng của Phật giáo Tiểu thừa cùng Phật giáo Đại thừa. Ô Toàn Luận được phân làm 5 phần chính: Phần Bản Địa. Phần Nhiếp Quyết Trạch. Phần Nhiếp Thích. Phần Nhiếp Dị Môn. Phần Nhiếp Sự. 1. Phần Bản Địa: Gồm 50 quyển đầu, lần lượt thuyết minh biện rộng về 17 Địa là: (1) Địa năm thức thân tương ưng. (2) Địa ý. (3) Địa có tầm có tứ. (4) Địa không tầm chỉ có tứ. (5) Địa không tầm không tứ. (6) Địa tam ma hí đa. (7) Địa phi tam ma hí đa. (8) Địa có tâm. (9) Địa không tâm. (10) Địa do văn tạo thành. (11) Địa do tư tạo thành. (12) Địa do tu tạo thành. (13) Địa Thanh văn. (14) Địa Độc giác. (15) Địa Bồ tát. (16) Địa hữu dư y. (17) Địa vô dư y. Chữ Địa (Phạn: Bhùmi) ở đây có nghĩa là cảnh giới, biên vực hành tác, tu trì, chứng quả của hành giả Du Già. Nơi 9 Địa đầu là thuyết minh về cảnh của ba Thừa, quán xét cảnh ấy tức có thể dấy khởi hành của 6 Địa tiếp theo (Địa 10 – 15). Lại dựa nơi hành ấy để có thể chứng đắc quả của 2 Địa sau cùng (Địa 16, 17). Do đấy đã biểu thị về thứ lớp thuận hợp của Cảnh, Hành, Quả.
2. Phần Nhiếp Quyết Trạch: Gồm từ quyển 51 đến quyển 80. Là nhiếp quyết trạch về 16 Địa đã nêu dẫn, biện giải ở trước (Không nói đến Địa Độc giác). Nhiếp là thâu tóm, gồm thâu. Quyết trạch là quyết đoán, phân biệt chọn lựa. Quyết đoán đối với các nghi. Phân biệt chọn lựa về những nghĩa tiêu biểu. Ý chính của phần này là làm rõ các nghĩa lý sâu xa nơi các Địa đã được giải thích, quảng diễn. Toàn phần được phân làm 12 phần (Quyết trạch về 2 Địa đầu. Quyết trạch về 3 Địa tiếp theo. Quyết trạch về Địa Thanh văn. Quyết trạch về Địa Bồ tát...).
3. Phần Nhiếp Thích: Gồm 2 quyển 81, 82 và phân làm 2 đoạn. Nhiếp thích là giải thích, biện rộng về những nghi tắc của các kinh (Như: Những gì là hai thứ Thể của Khế kinh? Văn. Nghĩa. Những gì là sáu thứ Văn? Những gì là mười thứ Nghĩa?...)
4. Phần Nhiếp Dị Môn: Gồm 2 quyển 83, 84 và cũng phân làm 2 đoạn. Gồm thâu môn khác (Nhiếp Dị Môn) là giải thích làm rõ về những Danh Nghĩa sai biệt hiện có trong kinh.
5. Phần Nhiếp Sự: Gồm 16 quyển cuối của Luận, tức từ quyển 85 đến quyển 100, được phân làm 6 đoạn chính: (Nhiếp sự là giải thích biện biệt về các nghĩa chính yếu nơi 3 tạng Kinh, Luật, Luận) (1) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Hành. (2) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Xứ. (3) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Duyên khởi. Thực (Ăn). Đế. Giới. (4) Sự Khế kinh: Lựa chọn gồm thâu về Pháp Bồ đề phần. (5) Sự Điều phục: Lựa chọn gồm thâu chung. (6) Sự Bản mẫu: Nêu dẫn. Biện giải. Gồm thâu...
Trong 17 Địa của Phần Bản Địa thì Địa Bồ tát (Địa 15) có số lượng quyển và trang nhiều nhất: Gồm từ quyển 35 đến quyển 49 và 4/5 quyển 50, gần 100 trang Hán Tạng, cũng là phần quan trọng nhất của Luận: Toàn bộ các vấn đề thuộc về Bồ tát cùng liên hệ với Bồ tát đã được Luận nêu dẫn, giải thích, quảng diễn đầy đủ. Địa Bồ tát được phân làm 4 đoạn chính: (1) Đoạn thứ 1: Trì Xứ Du Già: Từ quyển 35 đến quyển 46: Nêu dẫn quảng diễn về 18 phẩm. (2) Đoạn thứ 2: Trì Xứ Du Già Tùy Pháp: Từ quyển 47 đến 3/4 quyển 48: Nêu dẫn quảng diễn về 4 phẩm. (3) Đoạn thứ 3: Trì Xứ Du Già Cứu Cánh: Từ non 1/4 quyển 48 đến 2/3 quyển 50: Nêu dẫn quảng diễn về 5 phẩm. (4) Đoạn thứ 4: Trì Xứ Du Già Thứ Lớp: Gồm 1 trang của quyển 50: Nêu dẫn quảng diễn về 1 phẩm.
Luận Du Già Sư Địa được truyền vào Trung Hoa khá sớm, nhưng chưa đầy đủ. Các bản Hán dịch của Đại sư Đàm Vô Sấm, Cầu Na Bạt Ma (Cả hai đều gọi là Kinh), Chân Đế (Luận Quyết Định Tạng) là những phần, những đoạn của Luận Du Già Sư Địa, sẽ được nói đến nơi phần các Luận Biệt hành. (*) Các Luận Biệt hành:
* Kinh Bồ Tát Địa Trì: Do Đại sư Đàm Vô Sấm (Dhamaraksa: 385– 433) Hán dịch vào đời Bắc Lương (397 – 439) gồm 10 quyển (Tập 30, N° 1581, trang 888A – 959B) tức là Địa Bồ tát (Địa 15) trong Phần Bản Địa của Luận Du Già Sư Địa. Bản Hán dịch này tương tự như bố cục nơi Địa Bồ tát: Phân làm 3 đoạn chính: Xứ Phương tiện thứ nhất: Gồm 18 phẩm. Xứ Phương tiện thứ pháp: Gồm 4 phẩm. Xứ Phương tiện tất cánh: Gồm 5 phẩm (Thiếu 1 phẩm của Đoạn thứ 4). Phần Mở đầu và phần Cuối cũng như nơi Luận.
* Kinh Bồ Tát Thiện Giới: Do Đại sư Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman 367 – 431) Hán dịch vào đời Lưu Tống (420 – 478) gồm 9 quyển (Tập 30, N° 1582, trang 960 – 1013C). Bản Hán dịch của Đại sư Cầu Na Bạt Ma cũng chia làm 3 đoạn chính (Nhưng có thêm). Địa Bồ tát gồm 20 phẩm. Trụ Như pháp gồm 4 phẩm. Địa Tất cánh gồm 6 phẩm. Phần Mở đầu có Phẩm Tự như Phẩm Tự nơi các bản kinh thông thường (Tôi nghe như vầy). Phần cuối có sự việc Tôn giả Ưu Ba Ly hỏi Đức Thế Tôn về danh hiệu của bản kinh này v.v... cùng y giáo phụng hành.
* Kinh Bồ Tát Thiện Giới: Nº 1583, 1 quyển, Tập 30, trang 1013C – 1018B. Do Đại sư Cầu Na Bạt Ma Hán dịch, là tương đương với phẩm 10 (Giới) trong 18 phẩm thuộc Đoạn thứ 1: Trì Xứ Du Già nơi Địa Bồ tát của Luận Du Già Sư Địa.
* Luận Quyết Định Tạng: Nº 1584, 3 quyển (Tập 30, trang 1018B – 1035B). Do Đại sư Chân Đế (Paramàrtha. 499 – 569) Hán dịch vào đời Trần (557 – 588) ở phương Nam, tức là đoạn đầu của Phần Nhiếp Quyết Trạch (Phần 2), từ quyển 51 – 54 nơi Luận Du Già Sư Địa.
Lưu hành ở Ấn Độ, Luận Du Già Sư Địa đã góp phần lớn cho sự việc hình thành Trường phái Du Già (Duy Thức) một trong hai trường phái lớn của Phật giáo Đại thừa thời kỳ phát triển, với các vị Luận sư nổi tiếng nối tiếp sự nghiệp hoằng hóa của hai vị Bồ tát đi trước là Vô Trước, Thế Thân. Đó là chư vị Luận sư Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, An Tuệ, Hộ Pháp, Giới Hiền. Một vị Luận sư thuộc môn hạ của Luận sư Hộ Pháp tên Tối Thắng Tử (Phạn: Jinaputra. Đọc theo phiên âm là Thần Na Phất Đa La), tác giả sách Du Già Sư Địa Luận Thích, giải thích tóm tắt về 17 Địa trong Luận Du Già Sư Địa. Tác phẩm này cũng được Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch: Tập 30, N° 1580, 1 quyển, trang 883 – 888A.
Vào những năm cuối của tiền bán thế kỷ 7 TL, đời Đường (618 - 906) toàn bộ Luận Du Già Sư Địa đã được Pháp sư Huyền Tráng (602 – 664) Hán dịch gồm 100 quyển. Công trình phiên dịch này được thực hiện trong vòng một năm, từ ngày 15 tháng 5 năm Trinh Quán thứ 21 (647 TL) đến ngày 15 tháng 5 năm Trinh Quán thứ 22 (648) thì hoàn thành, có sự trợ giúp của 20 vị Sa môn làm các công việc: Bút thọ (5 vị), Chứng văn (5 vị), Chánh tự (2 vị), Chứng Phạn ngữ (1 vị) Chứng nghĩa (7 vị). Bản Hán dịch ấy sau khi lưu hành, đã được nhiều nhà Phật học Trung Quốc quan tâm nghiên cứu, chú giải, như: Thần Thái (Sớ Giải, 10 quyển), Khuy Cơ (Lược Toản, 14 quyển), Tuần Luân (Tập Soạn, 24 quyển)...
Cùng với các Kinh Luận đã được Hán dịch như Kinh Giải Thâm Mật, Luận Thành Duy Thức, Luận Nhiếp Đại Thừa (Đều do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch – Dịch mới hoặc dịch lại), Luận Du Già Sư Địa đã góp phần tạo nên nền tảng xuất sinh Tông Pháp Tướng, là một trong những Tông phái lớn của Phật học Trung Hoa, nối tiếp và phát huy trường phái Du Già của Phật giáo Ấn Độ, thịnh hành qua nhiều thời gian, tạo được dấu ấn đáng kể trong lãnh vực học thuật, không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ Chấn hưng Phật giáo (1928–1945), nơi chương trình học để đào tạo Tăng tài tại các Phật Học Đường Trung Nam Bắc, cũng đều chú trọng tới môn Duy Thức.
Từ đó đến nay, chúng ta đã Việt dịch được một số Kinh, Luận liên hệ, như Kinh Giải Thâm Mật, Luận Nhiếp Đại Thừa, Luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn, Luận Thành Duy Thức... Trong chiều hướng ấy, một bản Việt dịch Luận Du Già Sư Địa hoàn chỉnh ra đời, góp phần hoàn thành Tạng Luận nói riêng, Đại Tạng Kinh Việt Nam phần Phật giáo Bắc truyền nói chung, là một đóng góp rất có ý nghĩa, Bản Việt dịch Luận Du Già Sư Địa này do Cư sĩ Nguyễn Huệ, một thành viên trong Ban phiên dịch Đại Tạng Kinh tiếng Việt của Tuệ Quang Foundation thực hiện, dịch theo bản tiếng Hán do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, trong ĐTK/ĐCTT Tập 30, Nº 1579, 100 quyển, sử dụng đĩa Phật Điển điện tử CBETA. Xin trân trọng giới thiệu dịch phẩm Luận Du Già Sư Địa với bạn đọc xa gần. Thành phố Hồ Chí Minh xuân 2013. Phật lịch 2557 - Chủ tịch Tuệ Quang Foundation.
Nguyên Hiển Trích “Địa thứ 1 - Địa Năm Thức Thân Tương Ưng”:
Thế nào là Địa Năm thức thân tương ưng? Nghĩa là tự tánh, đối tượng nương dựa, đối tượng duyên hợp, trợ bạn và tạo nghiệp của năm thức thân. Như thế gọi chung là Địa Năm thức thân tương ứng. Những gì gọi là Năm thức thân? Đó là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức.
1. Nhãn thức:
a. Thế nào là tự tánh của nhãn thức? Nghĩa là nương nơi mắt để phân biệt, nhận biết về sắc.
b. Đối tượng nương dựa (chỗ dựa) của nhãn thức gồm:
(1) Chỗ dựa của câu hữu (thuộc nhãn thức) là mắt.
(2) Chỗ dựa của đẳng vô gián (thuộc nhãn thức) là ý.
(3) Chỗ dựa của chủng tử (thuộc nhãn thức) là thức A-lại-da, là chỗ thâu tóm các thứ dị thục, là chỗ dựa để nhận giữ tất cả chủng tử ấy.
Như thế là đã lược nói về hai thứ đối tượng nương dựa: tức sắc và phi sắc. Mắt là sắc, các thứ còn lại là phi sắc. Mắt là sắc tịnh do bốn đại chủng tạo thành, là chỗ dựa của nhãn thức, không thấy, có đối. Ý là thức quá khứ không gián đoạn của nhãn thức. Thức của tất cả chủng tử là thức dị thục của tất cả chủng tử do sự ưa thích, tham chấp về hý luận từ vô thỉ đến nay huân tập làm nhân sinh ra.
c. Đối tượng duyên hợp (chỗ duyên) của nhãn thức:
Nghĩa là sắc, có thấy, có đối. Đây lại có nhiều loại, lược nêu có ba: Là hiển sắc, hình sắc và biểu sắc. Hiển sắc là các sắc xanh vàng đỏ trắng, bóng sáng, sáng tối, mây khói, bụi, sương mù và một phần hiển sắc của Không. Hình sắc là các hình sắc dài, ngắn, vuông, tròn, thô, tế, thẳng, không thẳng, cao, thấp. Biểu sắc là các tướng lấy, bỏ, co, duỗi, đi đứng ngồi nằm. Như thế là các sắc. Lại, hiển sắc nghĩa là nếu sắc hiển bày, là đối tượng hành của nhãn thức. Hình sắc nghĩa là nếu sắc tích tập, tạo tướng phân biệt về dài, ngắn v.v... Biểu sắc tức các sắc tích tập ấy sinh diệt nối tiếp, do nhân đổi khác, nơi xứ sinh trước không sinh trở lại mà chuyển sang xứ khác, hoặc không gián đoạn, hoặc có gián đoạn, hoặc gần, hoặc xa, sinh sai biệt, hoặc tức ở nơi xứ này đổi khác mà sinh, đó gọi là biểu sắc.
Lại, hiển sắc nghĩa là sự sai biệt của ánh sáng, sự sáng v.v... Hình sắc là sự tích tập có sai biệt của dài, ngắn v.v... Biểu sắc là sự nương dựa, chuyển động có sai biệt của nghiệp dụng. Tất cả hiển sắc, hình sắc, biểu sắc như thế là đối tượng hành của mắt, là cảnh giới của mắt; là đối tượng hành của nhãn thức, là cảnh giới của nhãn thức, là đối tượng duyên của nhãn thức; là đối tượng hành của ý thức, là cảnh giới của ý thức, là đối tượng duyên của ý thức, với những tên gọi sai biệt. Lại nữa, sắc ấy y còn có ba thứ: Nghĩa là hoặc hiển sắc đẹp, hoặc hiển sắc xấu, hoặc hiển sắc cùng, khác, giống như sắc hiện rõ. d. Trợ bạn của nhãn thức:
Nghĩa là các pháp sở hữu của tâm (tâm sở) câu hữu (đồng thời tồn tại không lìa nhau) tương ưng với nhãn thức. Đó là tác ý, xúc, thọ, tưởng, tư, và những tâm sở câu hữu tương ưng với nhãn thức khác. Lại, các pháp này đồng một đối tượng duyên, nhưng không cùng một hành tướng, chúng “câu hữu” tương ưng với nhãn thức, mỗi mỗi chuyển biến. Lại nữa, hết thảy các pháp ấy, mỗi mỗi thứ đều từ chủng tử của mình sinh khởi.
đ. Tạo nghiệp của nhãn thức: Nên biết có 6 thứ:
(1) Chỉ phân biệt, nhận biết về đối tượng duyên của tự cảnh.
(2) Chỉ phân biệt, nhận biết về tự tướng.
(3) Chỉ phân biệt, nhận biết về hiện tại.
(4) Chỉ phân biệt, nhận biết trong một sát-na.
(5) Chuyển biến theo ý thức, theo thiện, nhiễm, theo phát nghiệp.
(6) Có thể chấp giữ quả yêu thích, không yêu thích.
2. Nhĩ thức:
a. Thế nào là tự tánh của nhĩ thức? Nghĩa là nương nơi tại để phân biệt, nhận biết về âm thanh.
b. Đối tượng nương dựa của nhĩ thức gồm:
(1) Chỗ dựa của câu hữu thuộc nhĩ thức là tai.
(2) Chỗ dựa của đẳng vô gián thuộc nhĩ thức là ý.
(3) Chỗ dựa của chủng tử thuộc nhĩ thức là tất cả chủng tử nơi thức A-lại-da. c. Đối tượng duyên hợp của nhĩ thức:
Nghĩa là âm thanh, không thấy, có đối. Đây lại có nhiều loại: như tiếng loa ốc, tiếng trống lớn, nhỏ, tiếng ca múa, tiếng các âm nhạc, tiếng hát xướng, tiếng nô đùa, tiếng kêu la, tiếng nam, tiếng nữ, tiếng gió thổi nơi rừng, tiếng rõ ràng, tiếng không rõ ràng, tiếng có nghĩa, tiếng không nghĩa, tiếng thấp, tiếng cao, tiếng vừa, tiếng sông suối reo, tiếng tranh chấp ồn ào, tiếng thọ trì diễn nói, tiếng luận bàn, quyết định lựa chọn. (con tách hàng xuống)
Các loại tiếng như thế có rất nhiều, ở đây lược phân làm ba:
(1) Tiếng do nhận giữ bốn đại chủng.
(2) Tiếng do không nhận giữ bốn đại chủng.
(3) Tiếng do nhận giữ và không nhận giữ bốn đại chủng.
Loại thứ nhất chỉ là âm thanh duyên bên trong. Loại thứ hai chỉ là âm thanh duyên bên ngoài. Loại thứ ba là âm thanh duyên cả trong ngoài. Đây lại có ba thứ: Là âm thanh hợp ý, âm thanh không vừa ý, âm thanh hợp ý – không hợp ý. Lại nữa, âm thanh là tên gọi sai biệt của những ngôn ngữ được biểu hiện rõ như: tiếng hót, nói, lời nói, gầm rống, là đối tượng hành của tai, là cảnh giới của tai; là đối tượng hành của nhĩ thức, là cảnh giới của nhĩ thức, là đối tượng duyên của nhĩ thức; là đối tượng hành của ý thức, là cảnh giới của ý thức, là đối tượng duyên của ý thức.
d. Trợ bạn của nhĩ thức: Giống như nhãn thức, nên biết.
đ. Tạo nghiệp của nhĩ thức: Giống như nhãn thức, nên biết… MỤC LỤC TỔNG QUÁT:
Tập 1: Từ Quyển 1 Đến Hết Quyển 27
Tập 2: Từ Quyển 28 Đến Hết Quyển 53
Tập 3: Từ Quyển 54 Đến Hết Quyển 78
Tập 4: Từ Quyển 79 Đến Hết Quyển 100
MỤC LỤC CHI TIẾT:
TẬP 1 - PHẦN BẢN ĐỊA
Quyển 1: - Địa Thứ 1: Địa Năm Thức Thân Tương Ưng
- Địa Thứ 2: Địa Ý, Phần 1 (Phần Bản Địa
Quyển 2:
Quyển 3:
Quyển 4:
- Địa Thứ 3, 4, 5: Địa Có Tầm Có Tứ
…
TẬP 2 – PHẦN BẢN ĐỊA
Quyển 28:
- Địa Thứ 13: Địa Thanh Văn Xứ Du Già Thứ Hai – Đoạn 3
Quyển 29:
- Địa Thứ 13: Địa Thanh Văn Xứ Du Già Thứ Hai – Đoạn 4
Quyển 30:
- Địa Thứ 13: Địa Thanh Văn Xứ Du Già Thứ Ba – Đoạn 1
…
TẬP 3 – PHẦN NHIẾP QUYẾT TRẠCH
Quyển 54:
- Địa Năm Thức Thân Tương Ưng Và Địa Ý – Đoạn 4
Quyển 55:
- Địa Năm Thức Thân Tương Ưng Và Địa Ý – Đoạn 5
Quyển 56:
- Địa Năm Thức Thân Tương Ưng Và Địa Ý – Đoạn 6
Quyển 57:
- Địa Năm Thức Thân Tương Ưng Và Địa Ý – Đoạn 7
…
TẬP 4: PHẦN NHIẾP QUYẾT TRẠCH
Quyển 79:
Quyển 80:
- Địa Bồ Tát – Đoạn 9
- Hai Địa Hữu Dư Y Và Vô Dư Y
Quyển 81:
Quyển 82:
…