GIÁO TRÌNH CHÚ GIẢI TAM TẠNG PALI - THIỆN MINH GIÁO TRÌNH CHÚ GIẢI TAM TẠNG PALI - THIỆN MINH Biên Soạn: TS. Tỳ Khưu Thiện Minh
NXB: Hồng Đức
Số Trang: 215 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2019
Độ Dày: 1,7cm
GTCG TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC 70.000 đ Số lượng: 3 Quyển
  • GIÁO TRÌNH CHÚ GIẢI TAM TẠNG PALI - THIỆN MINH

  •  185 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: GTCG
  • Giá bán: 70.000 đ

  • Biên Soạn: TS. Tỳ Khưu Thiện Minh
    NXB: Hồng Đức
    Số Trang: 215 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2019
    Độ Dày: 1,7cm


Số lượng
Lời tựa
Giáo trình Chú giải Tam tạng Pāli được biên soạn dựa trên hai tài liệu nổi tiếng về văn học Pāli của tác giả Bimala Charan Law. Mục đích biên soạn là nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập và tham khảo tư liệu văn học Pāli để hoàn thành môn học và khóa luận của sinh viên khoa Pāli thuộc Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh. Nội dung xoay quanh sự hình thành và phát triển nền văn học Chú giải Tam tạng Pāli, vai trò cần thiết của bộ chú giải, nếu thiếu chú giải chắc chắn chúng ta sẽ có sự hiểu rất mơ hồ về lời Phật dạy trong Tam tạng Pāli.

Giáo trình không chỉ tổng hợp những nội dung cơ bản nhất, chắt lọc những phần tổng quan tinh túy nhất mà còn giới thiệu đến các học viên vai trò của ba nhà Chú giải Tam tạng Pāli: Trưởng lão Buddhadatta, Trưởng lão Buddhaghosa, và Trưởng lão Dhammapala, ba bậc trưởng lão đã có những đóng góp quí giá cho việc làm sáng tỏ các “thuật ngữ” trong Tam tạng Kinh điển Pāli. Ba bậc trưởng lão sống vào thế kỷ thứ IV sau Tây lịch.


 
giáo trình chú giải tam tạng pali




Dẫu rằng, việc chú giải dường như có ngay từ thuở Đức Phật còn sinh tiền, cụ thể, trong quá trình giảng pháp, Đức Phật có cắt nghĩa (chú giải) những phần có nhiều “lớp nghĩa”, để chư tỳ khưu có thể nắm bắt rõ ràng, không mơ hồ, tránh hiểu lầm, hiểu sai (văn nghĩa cụ túc). Tiếp theo là Trưởng lão Sariputta - vị tướng quân chánh pháp cũng chú giải những bài kinh Đức Phật giảng quá cô đọng, súc tích, làm cho chư tỳ khưu hiểu chưa mạch lạc. Trưởng lão Mahakaccayana, vị trưởng lão từng được Đức Phật Gotama tán thán trước hội chúng tỳ khưu, là Đại đệ tử về hạnh Biện tài.

Chúng ta nhận thấy rằng, trong Trung bộ kinh có ít nhất 4 bài kinh do Trưởng lão Mahakaccayana chú giải những bài pháp Đức Phật đã giảng trước đó. Đồng thời chúng ta cũng thấy còn nhiều đệ tử của Đức Phật làm công tác chú giải tương tự như vậy cho đến tận thời của các Trưởng lão Buddhadatta, Buddhaghosa, và Dhammapala v.v... Các bậc thiên tài về chú giải đã góp phần bổ sung, hoàn thiện, giúp hoàn thành những tác phẩm Chú giải Tam tạng Pāli lưu lại hậu thế cho đến tận ngày nay. Giáo trình Chú giải Tam tạng Pāli là sự tổng hợp súc tích tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên khoa Phật học nghiên cứu. Trong quá trình biên soạn, có thể còn có một số sai sót ngoài ý muốn, rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến để kỳ tái bản sau được hoàn thiện hơn. Trân trọng.
Tỳ khưu Thiện Minh (Tổ đình chùa Bửu Quang, Q. Thủ Đức, TP. HCM - Tháng 9 năm 2017, PL. 2561)



 
giáo trình chú giải tam tạng pali 1



Trích “Bài 1 – Bản Chú Giải”: Đặc Tính Một Bản Chú Giải
Trước khi tiến hành tường trình về những bản chú giải tuyệt vời và nhiều tác phẩm đa dạng khác chúng ta còn mắc nợ với ngài Buddhaghosa, theo thiển ý của chúng tôi, thật rất  có lợi nếu như chúng ta mổ xẻ một vấn đề quan trọng: đó là tìm hiểu đôi chút về nguồn gốc và sự phát triển của những bản chú giải Kinh Phật biểu hiện nơi các công trình chú giải, diễn giải và cắt nghĩa những lời dạy của Phật Sakya (Thích Ca).

Tuy nhiên, việc đưa ra trước một vài nhận định về những đặc tính một bản chú giải xem ra cũng không kém phần cần thiết. Theo truyền thống Ấn Độ, một bản chú giải phải được hiểu là đọc được những ý nghĩa mới mẻ nơi những bản văn cổ, kết hợp với chính nền giáo dục và quan điểm của mỗi người chúng ta. Bản chú giải còn nhằm giải thích các từ và những suy đoán của người khác thật chính xác và trung thực, có thể và những nhận định được áp dụng cho bất kỳ bản chú giải nào khác bằng tiếng Phạn (Sankrit) cũng như tiếng Pali. Một bản chú giải hay là Bhasya, như tiếng Phạn thường gọi như vậy, đương nhiên bao gồm phần quảng diễn những lời phát biểu cô đọng hoặc những lời diễn đạt súc tích về ý nghĩa và biểu thị như nhà thơ Phạn vĩ đại Magha đã diễn tả trong tác phẩm nổi tiếng Kavya của ông.

Nhưng đồng thời luôn thấy xuất hiện một yếu tố độc đáo tương tự như định nghĩa do Bharata đưa ra trong cuốn từ điển ông biên soạn đã chỉ rõ: “những ai thành thạo trong việc chú giải (Bhaysa) gọi là một bản chú giải (Bhaysa) xét dưới góc độ người ấy lột tả được ý nghĩa một câu kinh (sutra) được cô đọng, chính là diễn tả được bằng từ những diễn tiến theo bản văn và, hơn thế nữa, phải diễn ta được ý nghĩa các từ của chính nhà chú giải đề ra”. Chúng ta sẽ thấy ngay trong bài tường trình dưới đây bàn về tiến triển liên quan đến một bản chú giải văn học Phật giáo, đó là phương pháp dùng từ của mình được định hướng theo những tác giả chú giải nổi tiếng, tuy nhiên điều này luôn được thích ứng với cách diễn một đoạn văn nguyên bản.



 
giáo trình chú giải tam tạng pali 2




Sự Cần Thiết Phải Có Những Bản Chú Giải Kinh Phật
Trước khi tiến hành thảo luận về nguồn gốc các bản chú giải Kinh Phật, chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế đó là: nhu cầu cần thiết phải có sự diễn giải chính xác về các từ Kinh Phật đã được hình thành làm nguyên tắc hướng dẫn cho cuộc sống và sinh hoạt nơi các cộng đồng Tăng Già (Sangha), được cảm nhận ngay từ lúc đầu khi Đức Phật còn đang sinh tiền. Tuy nhiên, có điểm lợi là vào thời điểm đó những vấn đề tranh cãi có thể đến hỏi ngay Đức Phật để tìm ra biện pháp giải quyết ngay và ở điểm này chúng ta đã bắt gặp, đó là giai đoạn đầu tiên xuất hiện những bản chú giải Kinh Phật như chúng ta đã bắt gặp, đó là giai đoạn đầu tiên xuất hiện những bản chú giải Kinh Phật như chúng ta sẽ thấy dưới đây.

Những chứng cớ có được đã chỉ rõ một thực tế là chỉ một vài năm sau khi Đức Phật đạt đến giác ngộ, những trung tâm Phật giáo đã được thiết lập tại những vùng kế cận nhiều thị trấn quan trọng và các thành phố lớn hồi đó như: Benares, Rajagaha, Vesali, Nalanda, Pava, Ujjeni, Campa, Uttara Madhura, Ulumpa, Savatthi v.v… Mỗi nơi này thường xuất hiện một cộng đoàn các vị tỳ khưu dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của một hay nhiều đồ đệ nổi tiếng của Đức Phật như Mahakassapa, Mahakaccayana, Mahakotthita, Sariputta, Moggallana. Tuân thủ giới luật của những vị lãnh đạo lưu động, hay những nhà thông thạo triết lý Phật, họ thường qua mùa mưa tại công viên nghỉ mát hoàng gia hay tại một thiền viện và sau đó thường gặp lại nhau một lần trong năm tại Rajagaha, Veluvana Savatthi hay một nơi nào khác. Họ thường trao đổi với nhau và đôi khi còn mời cả những vị thông thạo triết lý Phật đương thời nữa. Đó là điều ai cũng đã được biết.



 
giáo trình chú giải tam tạng pali 3




Trao Đổi Tư Tưởng Nơi Những Đồ Đệ Tiên Khởi Của Đức Phật
Trong số những vị lãnh đạo các tỳ khưu khác nhau, một số rất nổi tiếng và hiểu biết về giáo lý Phật giáo, số khác nổi bật hơn về giới luật, có người nổi tiếng về bình luận và phân tích, số khác về luyện tập hạnh đầu đà, một số có tài kể chuyện, tài diễn giảng, số khác thông thạo kinh Phật, văn kệ v.v… Trong số các đồ đệ và Phật tử có những người xuất thân từ các gia đình thuộc đẳng cấp Bà-la-môn và rất thông thạo tiếng Phệ-đà và toàn bộ nền văn học đó. Tự nhiên ta thấy nổi lên một vấn đề, “toàn bộ khoảng thời gian trong ngày những vị tỳ khưu học thức uyên bác và thông thái đó đã bận bịu vào những công việc gì?”.

Các bản văn Phật giáo và Jaina còn lưu truyền cho chúng ta thấy các vị thiền sư du hành vào thời đó đã đi khắp mọi miền đất nước, bất kì nơi nào hộ dừng chân, họ đều tiến hành những cuộc thảo luận hết sức nghiêm túc về những đề tài liên quan đến tôn giáo, triết học, đạo đức, luân lý và chính trị. Những cuộc thảo luận như vậy nhằm làm sáng tỏ những bài nói chuyện của các vị thiền sư nổi tiếng thường cũng là nguyên nhân giúp văn học Phật giáo phát triển, đặc biệt là các bản chú giải Kinh Phật. Có rất nhiều đoan văn thật hấp dẫn trong Tam Tạng (Tipitaka) đã chỉ rõ điều đó, thỉnh thoảng những biến cố đương thời cũng làm nảy sinh nơi các vị tỳ khưu rất nhiều đề tài thảo luận, hay sự bình thản của họ đôi khi bị quấy nhiễu do những nghi kỵ nghiêm trọng cũng cần đến chính Đức Phật hay các đồ đệ của Ngài giải quyết. Cứ mỗi lần các nhà thông thạo kinh Phật liên quan phát biểu hăng say vầ mãnh liệt “nhiều khi lại nhằm chê bai ý kiến của Đức Phật, chê bai cả Giáo Pháp hoặc chỉ trích các vị có thẩm quyền trong Giáo hội”; cứ mỗi khi một vị thông thái kiểu đó diễn giải sai ý Đức Phật, cứ mỗi lần những  cuộc tranh luận gây cấn nổ ra nơi bất kỳ nhóm đồ đệ đương thời nào, hay một vài vị tỳ khưu hành động không đúng, thường họ sẽ nhóm họp lại tại sảnh đường để mổ xẻ vấn đề, thường là chính Đức Phật hoặc các đồ đệ của Ngài động viên thôi thúc để cứu vãn những lợi ích chung.

Nhờ những cơ hội như vậy Đức Phật đã đưa ra một số diễn giải mang tính lịch sử về những giới luật đạo đức thích hợp với Giáo Pháp rất nổi tiếng như: “Ông phải tránh những điều xấu xa, và thực hành những gì tốt đẹp” nghĩa là Ngài đã giải thích Giới luật liên quan đến những khía cạnh tích cực hay tiêu cực. Giới luật này hiện giờ đã được sát nhập vào mười ba Kinh (Sutta) đầu tiên trong Digha Nikaya – Trường Bộ Kinh, và cũng khá phổ biến trong kinh Silakkhandha – Tiểu Luận Luân Lý Phật Giáo, là tên cuốn sách đầu tiên trong bộ sách Digha. Một dịp khác Ngài Potaliputta, một nhân vật du hành hoằng giáo, đã đến thăm Samidhi, và nói như sau: “Theo như Đức Phật Gotama, tôi thực sự đã nghe ông nói, nghiệp (kamma) bằng hành động hay  trong lời nói thì chẳng phải là nghiệp (kamma) chút nào cả. Nghiệp (kamma) thực sự chỉ phát xuất từ phương cách suy tư hoặc do ý muốn cố quyết (volition – cetana – tư) mà thôi. Vì chỉ có tri thức sau khi chúng ta cảm nhận được hư vô (nghĩa là điều vượt ra ngoài mọi kinh nghiệm giác quan, vui sướng hay đau khổ)”.

Đáp lại những lời lẽ trên, Samiddhi phát biểu như sau: “Xin đừng nói vậy, ông bạn già Pataliputta ơi, xin đừng nói về Ngài kiểu đó. Làm ơn đừng bóp méo quan điểm của thầy chúng ta kiểu đó, chẳng có gì tốt lành đâu. Ngài chẳng bao giờ nói như vậy cả”. “nhưng này Samiddhi, hãy cho tôi biết, con người ta sẽ trải qua điều gì do hậu quả của hành động cố ý của mình cả trong tư tưởng, hành động và lời nói”. Câu trả lời là chỉ gây ra “đau khổ” mà thôi…




 
giáo trình chú giải tam tạng pali 4




MỤC LỤC
Lời Tựa.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CHÚ GIẢI.
Bài 1. Bản Chú Giải
  • Đặc Tính Một Bản Chú Giải
  • Sự Cần Thiết Phải Có Những Bản Chú Giải Kinh Phật
  • Trao Đổi Tư Tưởng Nơi Những Đồ Đệ Tiên Khởi Của Đức Phật
  • Chú Giải Của Đức Phật
  • Bản Chú Giải Kinh Phật Của Ngài Sāriputta.
  • Phát Triển Chú Giải Kinh Phật Do Một Số Đồ Đệ Của Đức Phật Thực Hiện - Ngài Mahākaccāyana Mahā Kotthita.
Bài 2. Ba Nhà Chú Giải Vĩ Đại Buddhadatta, Buddhaghosa, Dhammapāla
  • Buddhadatta.
  • Buddhaghosa.
  • Dhammapāla.
Bài 3. Nguồn Gốc Các Tập Chú Giải
  • Nguồn Gốc.
  • Các Tập Chú Giải Của Ba Vị Chú Giải Vĩ Đại
CHƯƠNG II. CÁC TẬP CHÚ GIẢI CỦA NGÀI  BUDDHADATTA
Bài 1. Tác phẩm Abhidhammavatāra và Rūpārūpavibhaṅga.
Bài 2. Tác phẩm Vinayavinicchaya và Uttaravinicchaya.
CHƯƠNG III. CÁC TẬP CHÚ GIẢI CỦA NGÀI BUDDHAGHOSA
Bài 1. Tác phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)
Bài 2. Tác phẩm Samantapāsādikā.
Bài 3. Tác phẩm Kaṅkhāvitaraṇī
CHƯƠNG IV. CÁC TẬP CHÚ GIẢI KINH TẠNG.
Bài 1. Sumaṅgalavilāsinī - Tập Chú giải Trường Bộ Kinh.
Bài 2. Papañcasūdanī - Tập Chú giải Trung Bộ Kinh.
Bài 3. Sāratthapakāsinī - Tập Chú giải Tương Ưng Bộ Kinh.
Bài 4. Manorathapūraṇī - Tập Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh.
Bài 5. Khuddakapāṭha - Tập Chú giải Tiểu Bộ Kinh.
Bài 6. Chú giải Pháp Cú Kinh
Bài 7. Tập Chú giải Kinh Nipāta và Kinh Bản Sanh.
  • Tập Chú giải Kinh Nipāta.
  • Tập Chú giải Kinh Bản Sanh.
CHƯƠNG V. CÁC TẬP CHÚ GIẢI VI DIỆU PHÁP TẠNG.
Bài 1. Atthasālinī - Chú giải Bộ Pháp Tụ và Sammoha Vinodhanī - Chú giải Bộ Phân Tích
  • Chú giải Bộ Pháp Tụ (Atthasālinī)
  • Chú giải bộ phân tích (Sammoha Vinodhanī)
Bài 2. Các Tập Chú giải khác.
  • Tập Chú giải Dhātukathāpakaraṇa.
  • Tập Chú giải Kathāvatthu-Aṭṭhakathā.
  • Tập Chú giải Yamakapakaraṇa.
CHƯƠNG VI. CÁC TẬP CHÚ GIẢI CỦA NGÀI DHAMMAPALA
Bài 1. Tập Chú giải Thiên Cung Sự (Vimānavatthu Aṭṭhakathā)
Bài 2. Paramatthadīpanī - Tập Chú giải Ngạ Quỷ Sự.
Bài 3. Paramatthadīpanī - Tập Chú giải Trưởng Lão Kệ.
Bài 4. Paramatthadīpanī - Tập Chú giải Trưởng Lão Ni Kệ.
Bài 5. Paramatthadīpanī - Chú giải Kinh Hạnh Tạng.





 
thông tin cuối bài viết 2
 
thông tin cuối bài viết 1
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây