094.278.3333 - 0888.959.000

187 Bà Triệu - quận Hai Bà Trưng - Hà Nội

TÔNG MÔN CẢNH HUẤN - THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ TÔNG MÔN CẢNH HUẤN - THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ Tác Giả: Thiền sư Thích Thanh Từ
Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
Hình Thức: Bìa cứng
Khổ sách: 16x24cm
Độ Dày Trọn Bộ: 11.7cm
Bộ: 4 quyển
Năm Xuất Bản: 2022
S001581 THÍCH THANH TỪ 1.500.000 đ Số lượng: 999 Bộ
  • TÔNG MÔN CẢNH HUẤN - THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ

  •  1251 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: S001581
  • Giá bán: 1.500.000 đ

  • Tác Giả: Thiền sư Thích Thanh Từ
    Nhà Xuất Bản: Hồng Đức
    Hình Thức: Bìa cứng
    Khổ sách: 16x24cm
    Độ Dày Trọn Bộ: 11.7cm
    Bộ: 4 quyển
    Năm Xuất Bản: 2022


Số lượng
DẪN NHẬP

Đạo Phật Việt Nam, Thiền tông Phật Giáo Việt Nam, hai mối lương duyên này đồng hành trôi chảy, hình thành gắn bó xuyên suốt trên mảnh đất quê hương mãi tự thuở nào. Lịch sử Việt Nam từ thời ban sơ, tràn dâng một sức sống uy linh, thấm đẫm nòi giống con rồng cháu tiên. Bản lĩnh Việt tồn tại đậm nét hào hùng, cuối cùng đề huề với năm châu. Nòi giống Việt trân kính quý báu văn miếu, có thể sánh bước cùng các nguồn văn minh sáng chói khắp châu lục lãnh thổ.
 
tong mon canh huan thien su thich thanh tu1

Buổi sơ khai các thiền tăng có mặt và gầy dựng Phật pháp Thiền tông tại nước ta. Bước chân các đoàn du tăng mang dấu ấn đạo Phật đi vào nước Việt, đương thời hội ngộ tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu, có thể sánh vai với Đông Ngô, Bành Thành, Lạc Dương... Bắc Quốc. Thời này một thiền tổ mang dấu ấn tông thừa là Tỳ-ni-đa-lưu-chi, vừa từ phương Bắc quảy tích sang Đại Việt hoằng dương Thiền tông. Phật pháp của ngài cắm sâu và phát triển vào khoảng thế kỉ thứ 6.

Sau đó, thiền sư Vô Ngôn Thông (? - 826) học trò đắc pháp của tổ Bách Trượng sang Đại Việt, trụ tại đạo tràng chùa Kiến Sơ, hoằng truyền đạo Tổ, hóa độ chúng sanh. Hồi này nhiều đoàn du tăng từ Bắc Ấn, Tây Hạ, Trung Hoa, trong đó có những vị thiền tăng Việt Nam cùng truyền thừa Thiền tông. Những kỷ nguyên liên tiếp nơi quê hương chúng ta liên tục phát triển đạo thiền.


Hoàng đế Lý Thánh Tông (1023 - 1072) sau thắng lợi cuộc chiến Việt - Chiêm, trong đoàn người hồi triều có thiền sư Thảo Đường. Đây là vị thiền sư thuộc dòng thiền Vân Môn, ngài sang hóa đạo Chiêm Thành, cùng về đất Việt và mở mang Thiền phái Thảo Đường, một thời uy chấn đất kinh đô. Các quân vương sĩ tứ đương thời quy hướng học pháp tu hành nơi ngài.

Thiền tông Lý - Trần thời kì hội nhập phát triển bền vững. Thời này những danh tăng nước Việt như thái sư Khuông Việt, thiền sư Vạn Hạnh, tổ sư Lý Khánh Vân, hòa hội cùng các minh quân hoàng đế Đại Việt hợp xướng tông phong, mở mang phát triển Thiền tông đạo Phật mang đậm bản sắc Việt. Từ đây mở ra một thời kỳ vàng son của dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, Thiền tông Việt Nam.

Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308) Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tiếp nối phát triển Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm, Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử một thời uy đại toàn cõi Đại Việt, người người tin Phật, tu Phật, hành thiền. Các thiền tăng tiếp nối liên tục truyền bá Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử. Thời này Tam tổ Trúc Lâm tục diệm tông Tổ, thiền sư Hiện Quang, quốc sư Viên Chứng, Đại Đăng, Phù Vân... nhất tề truyền bá đạo thiền. Bao nhiêu công hạnh công đức dâng về cho đạo pháp, dân tộc hưng thịnh mãi ngàn sau.

Tuy nhiên, đất nước bước vào hồi thịnh suy, dòng sinh mạng của chúng sanh cũng không dừng một chỗ. Thịnh rồi suy, suy để rồi phấn đấu, cùng hình thành gây dựng. Xưa nay luôn là như vậy. Bánh xe thời gian là thứ gì ghê gớm nhất, luôn nghiền nát mọi thứ, trong đó cũng không thể giấu giếm nổi chất liệu làm nên, hiện thành. Dẫu sao thời kì trung hưng, tổ Chân Nguyên Huệ Đăng cùng một số môn hạ chân tu thật học cùng chung phụng sự, thắp lại đèn Tổ, khiến tông phong Phật giáo thiền Trúc Lâm thời này sống dậy. 

Thế là nhân duyên sự kiện mọi thứ chìm lắng, trải dài suốt bao nhiêu thế kỷ. Chính đây là thời kỳ yên lắng mà hoằng truyền. Căn cơ phúc duyên của chúng sanh khắp thế giới nói chung, dân tộc Việt cùng cộng hưởng cũng không ngoại lệ. Cứ như vậy mà tạo dựng, mà sống còn, vươn lên, cống hiến thăng hoa. Các bậc long tượng cũng tùy duyên xuất thế bằng vào đại nguyện đại lực, tùy phần mở mang chánh đạo. Giá trị đạo pháp trong sự nghiệp truyền thừa, nhân đó lợi lạc quần sanh.

Thực sự mà nói thế sự thăng trầm, đạo pháp cũng chìm nổi. Cứ vậy mà thể hiện, hành trì, bảo vệ, tôn vinh. Chúng sanh cần Phật pháp có, nối nắm thừa đương mãi mãi. Tuy vậy, đâu đó cũng phát tín hương, tín hiệu trỗi dâng, duyên lành hội tụ mọi thứ thông suốt. Thời cận đại phong trào chấn hưng Phật giáo, con thuyền vận mệnh Phật pháp thời cơ hội đủ nhất tề dâng lên.

Thời kì đương đại các bậc chân tăng xuất hiện khắp ba miền đất nước. Bắc phần thì có chốn Tổ Vĩnh Nghiêm phát động phong trào. Miền Trung chư Tổ Tây Thiên, Phước Huệ, Báo Quốc cũng mở hội Tăng học sinh, cư sĩ học Phật hăng hái cầu pháp, siêng năng tu tập. Miền Nam sáng dậy, chư tổ Huệ Quang, Khánh Hòa, Tổ Tổ thừa đương mở hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học, Lưỡng xuyên Phật học. Đây là thời kỳ Phật pháp được khởi động, vun vén, chính là lúc người con Phật khắp nơi thức giấc, làm tốt nhiệm vụ truyền trì mạng mạch Phật tổ, lợi lạc quần cơ.

Đèn Phật sáng tỏ, mạch thiền lung linh, dòng thiền Trúc Lâm cũng theo đó là phục sáng. Thiền sư Thích Thanh Từ cả đời hành trì Phật pháp, nhận thấu yếu chỉ tông thừa, từ xa vạn vọng phát đại nguyện vận thuyền đại từ, xiển dương đại pháp, thừa thâm ân cảm hóa của liệt tổ liệt tông, thắp sáng ngọn đuốc Phật tâm, lợi lạc khắp nơi.

 
tong mon canh huan thien su thich thanh tu3

Tại miền Nam nước Việt, ngài khôi phục và truyền thừa Thiền tông Trúc Lâm. Thừa tư công đức mong báo đáp thâm ân Phật tổ, lịch đại Tổ sư, chuyển tải mạng mạch Trúc Lâm Yên Tử, dâng lên cúng dường mười phương Tam bảo, các bậc hiền thánh, hòa nguyện lợi lạc quần sanh, khiến đèn thiền Trúc Lâm sáng dội mai sau. Hướng nguyện tâm huyết của ngài, tâm hành và Phật pháp nơi ngài luôn tuôn chảy khắp chốn tùng lâm.

Từ thiền viện Chơn Không - Vũng Tàu, núi lớn Tương Kỳ, Lão nhân Tương Kỳ đinh ninh mở hội dạy thiền cho Tăng Ni tứ chúng và đạo tràng Phật tử cùng về tu học. Giai đoạn chuyển tiếp ngài về đạo tràng Thường Chiếu mở rộng thiền pháp, xiển hóa cùng khắp. Đồng thời ngài khai mở đạo tràng thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở cao nguyên vào thập niên 90. Tại đây, khu nội viện cũng được thành lập cho đại chúng cùng tu học. Không lâu, nơi này trở thành trung tâm hướng dẫn tu thiền Trúc Lâm của ngài.

Thời gian ở thiền viện Trúc Lâm, mỗi tháng ngài vẫn trở về Tổ đình Thường Chiếu giảng dạy, hướng dẫn Tăng Ni tứ chúng tu học. Chư Tăng Ni, Phật tử pháp hữu về tu học rất đông. Đây, lời hướng dẫn của ngài cho hành giả tu thiền vào những mùa An cư và lời khai thị cho những Phật tử đến cầu pháp tu học:


Ba tháng an cư của Tăng Ni là ba tháng tu hành miên mật, chín chắn. Thời gian này, Phật tử đem hết tâm hướng về Tăng Ni. Trách nhiệm của chúng ta là phải nỗ lực, không tiến nhiều cũng phải tiến ít, không thể lơ là được. Tu chẵng những lợi ích cho mình mà còn gầy dựng niềm tin cho Phật tử. Nếu nói an cư mà cũng như ngày bình thường, tu hành lơ là cho qua ngày đoạn tháng, nhận đồ cúng dường của Phật tử, đó là việc xấu hổ đáng buồn.

Tất cả Tăng Ni ở thiền viện hay các am thất chung quang phải nhớ, chúng ta không tu thì thôi, tu thì phải thực hành cho đúng, nói cái gì phải làm cho được cái đó. Nói ba tháng an cư thanh tịnh tu hành, thì phải cố gắng thanh tịnh tu hành. Làm sao qua một mùa An cư chúng ta có những bước tiến rõ ràng, khác với khi chưa vào an cư. Được như thế mới xứng đáng tăng thêm một tuổi đạo, là một tuổi công đức.

Người xưa nói "Tu hành cốt yếu tại tâm", nhưng biết tu tâm nào. Có người cho rằng nghĩ thiện là tốt nên giữ, nghĩ ác là tâm xấu bỏ đi, đó là tu tâm. Sự thật là đến chỗ cứu cánh của nhà thiền thì thiện ác đều buông. Bởi vì thiện ác thế gian chỉ mang tính tương đối. Tâm chân thật thì không còn thiện ác, hai bên. Chúng ta tu nên bỏ tâm hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất, trở về chỗ an tĩnh chân thật.

Tu thiền bắt phải ngồi nghiêm trang, đau nhức dữ dội vẫn phải chịu một tiếng rưỡi, hai tiếng đồng hồ. Đó là để tự mình khắc phục sự khó khổ trên thân. Thân cực khổ vẫn dễ thắng hơn tâm. Trong tâm lăng xăng muốn ngừng nhưng vẫn cứ chạy, không dừng bao giờ. Vọng tưởng là bóng dáng của các trần đã ghi sâu trong tàng thức, sẵn sàng xuất hiện bất cứ lúc nào, không thể ngăn cản, ngừa đón. Thực sự muốn thắng tâm vọng tưởng trước phải thắng thân. Hàng phục thân thành công mới có khả năng hàng phục tâm. Thân nhọc nhằn một chút chịu không nổi, như thế sẽ không bao giờ hàng phục nổi tâm.

Làm khách phong trần tha phương, càng đi càng xa quê nhà. Mỗi lần chúng ta sanh ra là mỗi lần tạo thêm nghiệp và càng xa dời bản tâm chân thật. Người tu thức tỉnh trở về quê hương, phải làm sao mỗi ngày tiến gần hơn với chính mình. Về tận nhà mới xong việc. Đời này chưa chấm dứt dòng sanh tử, ít ra cũng bớt khổ nhiều. Muốn được vậy thì đừng chạy theo vọng tưởng, danh lợi, tài sắc của thế gian. Vọng tưởng chỉ là cái áo phong trần đầy bụi bặm, ngang đây rũ sạch để trở thành con ông trưởng giả ngồi trong nhà cai quản sự nghiệp.

Chúng ta tu là đi trên con đường giải thoát, là con đường diệu vợi. Đi một ngày mệt thì ghé trạm nghỉ, ngày thứ hai đi tiếp. Có đi là có tiến, đi chậm thì tiến chậm, đi mau tiến mau. Dù chưa tới nơi nhưng luôn luôn cố gắng nỗ lực, chưa đến đích cũng vẫn cứ đi. Đi mãi cho tới cứu cánh mới thôi, đừng tính ngày tính tháng, tính năm này năm nọ, cứ thẳng một đường chăm bẵm đi mãi, nhất định có ngày sẽ đến.


Thiền sư Thích Thanh Từ - Thầy chúng tôi - thế danh Trần Hữu Phước, ngài ứng thế vào thập niên 20, tiền bán thế kỉ 19 tại làng Tích Thiện, quận Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, trong một gia đình trung nông thuần Việt.

 
tong mon canh huan thien su thich thanh tu4

Năm lên 9 tuổi mà ngài đã cảm tác lời thơ:

Non đảnh là nơi thú lắm ai,
Đó cảnh nhàn du của khách tài,
Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc,
Chuông hồi văng vẳng quá bi ai.


Quả là chủng duyên tu hành từ nhiều đời của ngài đã sớm khai phát.

Năm 1949, ngài được tổ Thiện Hoa thế phát xuất gia vào ngày 15 tháng 7 tại chùa Phật Quang - Bang Chang, Trà Ôn. Tại đây ngài đã cần mẫn chuyên tâm tu học.

Năm 1953, ngài theo Tổ lên Sài Gòn tu học tại Phật Học đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Vừa học vừa lưu giảng tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ theo sự chỉ giáo của Giáo hội và chư Tổ tại chùa Ấn Quang.

Năm 1957, ngài về chùa Phước Hòa - Trà Vinh thừa thành Phật sự.

Năm 1961, ngài nhập thất hành thiền tại Thiền Duyệt Thất - Bảo Lộc, Lâm Đồng. Thời gian này ngài cùng các pháp hữu hình thành giáo trình Cao trung Phật học và Đại học Phật giáo Việt Nam.

Năm 1963, ngài cùng với hai hòa thượng Bửu Huệ, Thiền Tâm chịu trách nhiệm khai giảng trường Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm.

Năm 1966, Phật học vừa xong ngài giã từ Sư tổ, các pháp hữu, lên núi Tương Kỳ dựng Pháp Lạc Thất, chính thức hành thiền.

Năm 1968, ngài sáng lý sắc không, mở ra một chân trời thông thống, thấu tột yếu chỉ Thiền tông, đặc biệt qua lời giảng giải của thiền sư Khuyên Phong Tông Mật trong tác phẩm Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự.

Năm 1970, ngài chính thức khai quang thiền viện Chơn Không.

Năm 1974, ngài thành lập thiền viện Thường Chiếu và sau đó các thiền viện ni Viên Chiếu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu, Tịch Chiếu, Chơn Chiếu... cũng lần lượt ra đời. Tứ chúng khắp nơi đề huề tu học. Có thể nói Thường Chiếu là một đạo tràng lớn, thiền sư Thích Thanh Từ chủ hóa hoằng truyền Thiền tông Trúc Lâm Việt Nam.

Năm 1993, ngài thành lập thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng -  Đà Lạt. Đây là nơi lý tưởng tối hậu của ngài. Mạch nguồn thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đến đây là thời kỳ phục hưng và phát triển mạnh mẽ. Ngài nói: 


Hoài bão của tôi là khôi phục thiền tông Việt Nam. Bởi vì người Việt Nam lập thành một hệ phái Thiền tông chỉ có ở đời Trần, còn những đời trước và đời sau đều lấy theo hệ phái của Trung Hoa. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất hiện một hệ phái thiền Việt Nam trọn vẹn, mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa, làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam.

 
tong mon canh huan thien su thich thanh tu2

Thế là các thiền viện khắp nơi trong đất nước lần lượt ra đời, và phát triển sang cả ngoài nước. Bước chân của ngài tới đâu là ánh sáng Phật pháp lan tỏa tới đó, đem an vui đến cho muôn người. Đặc biệt ngài đã trở về chốn Tổ, nơi phát tích dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, dựng lập thiền viện và đạo tràng Thiền tông nơi đây. Thiền phong một thuở bừng sống dậy nơi chốn Tổ non Yên, làm tiêu bảng cho thiền tăng Việt Nam, giữ vững cương lĩnh và mạch nguồn Thiền tông nước Việt muôn thuở.

Tông Môn Cảnh Huấn được kết tập từ công đức giáo hóa một đời của ngài. Bao nhiêu tâm huyết, công phu, trí tuệ và lòng từ bi của ngài thể hiện trọn vẹn trong bộ sách này. Tăng Ni Phật tử hữu duyên với pháp tu thiền, thích tu thiền, có thể lấy đây làm cẩm năng trên con đường hành thiền. Đó cũng chính là hoài bão của Ân sư, mong muốn truyền bá dòng thiền nước Việt rộng sâu trong lòng dân tộc và Phật giáo quê nhà, đồng thời rộng khắp năm châu bốn bể, lợi lạc quần sanh, đền ơn Phật Tổ.

Nơi đây, 

Chúng môn hạ đệ tử của ngài, có những vị đã nhiều năm theo Thầy học đạo hành thiền, có niềm tin và niềm vui nơi pháp thiền. Quý kính, tưởng nhớ đến thâm ân cao vời của Ân sư, đồng thời vâng theo chí nguyện Thầy tổ, huynh đệ cùng nhau biên tập bộ Tông Môn Cảnh Huấn này, ghi lại lời giáo huấn của Thầy, làm kim chỉ nam cho hành giả tu thiền. Bao nhiêu công đức có được cung kính dâng lên cúng dường Thầy tổ, kính mừng bách thọ khánh tuế Ân sư.

Nguyện Thầy cửu trụ Ta-bà, trí tuệ viên mãn, truyền tải Phật pháp Thiền tông, làm lợi ích khắp nhân gian.


TM. Ban Văn Hóa Thường Chiếu
Khể thủ,

Pháp tử Thích Nhật Quang


Mộng

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng


TỔNG MỤC LỤC


QUYỂN 1

------------------------------
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN CHƠN KHÔNG

1. Dẫn nhập
2. Khởi đầu
3. Thanh quy thiền viện Chơn Không
4 .Diễn văn khai giảng khóa I tu viện Chơn Không(1971 - 1974)
5. Diễn văn khai giảng khóa II - 1974 thiền viện Chơn Không - Bát Nhã
6. Đường lối tu của tu viện Chơn Không
7. Cương lĩnh pháp tu thiền Biết có chân tâm
8. Phương pháp tọa thiền


Phần I - Những bài giảng phổ thông

9. Đêm trừ tịch
10. Xuân trong cửa thiền
11. Con người hạnh phúc
12. Viên ngọc họ Hòa
13. Sanh tử sự đại
14. Con người bất tử
15. Tùy duyên bất biến
16. Tâm hạnh người tu
17. Tin tâm
18. Tổ sư thiền
19. Một chữ xả
20. Mục đích của tôi
21. Khéo chọn con đường tốt
22. Ai thực tế hơn ai
23. Về thăm thiền viện Chơn Không


Phần II - Những bài pháp ngắn

24. Trích kinh A Hàm
25. TríchThiền sử
26. Trích pháp yếu


HÒA THƯỢNG DẠY HÀNH GIẢ NHẬP THẤT TẠI CÁC THIỀN VIỆN

27. Thiền viện Chơn Không
28. Thiền viện Thường Chiếu
29. Thiền viện Trúc Lâm
30. Thiền viện Viên Chiếu
31. Thiền viện Linh Chiếu 

------------------------------

QUYỂN 2
------------------------------
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG TỔ ĐÌNH THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

1. Dẫn nhập
2. Khởi đầu
3. Nội quy thiền viện Thường Chiếu
4. Cương lĩnh pháp tu thiền Biết có chân tâm
5. Quy chế Thiền đường
6. Phương pháp tọa thiền


Phần I - Giáo huấn Tăng Ni

7. Tu thiền là cội gốc của đạo Phật
8. Tinh thần giáo ngoại biệt truyền
9. Về đến nhà
10. Chủ trương tu học lao động tại các thiền viện
11. Sáng việc lớn
12. Hòa quang đồng trần
13. Ý nghĩa bài thơ Về Quê
14. Hoài bão của tôi
15. Giảm một tuổi đời, tăng một tuổi đạo
16. Con đường phía trước
17. Quên mình theo vật
18. Tròn đồng thái hư
19. Cá nhảy khỏi lưới
20. Thị phi
21. Căn trần không dính nhau
22. Cội gốc của luân hồi sanh tử


Phần II - Giáo huấn An cư

23. Pháp yếu tu thiền
24. Sách tấn mùa An cư
25. Cốt tủy đạo Phật
26. Chủ đích của đạo Phật
27. Ciác ngộ và mê lầm


Phần III - Giáo huấn Tự tứ

28. Nhắc nhở Tăng Ni trong ngày Tự tứ
29. Lý thuyết và thực hành


PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG CÁC THIỀN VIỆN NI

30. Pháp ngữ dạy chúng thiền viện Viên Chiếu.
31. Pháp ngữ dạy chúng thiền viện Linh chiếu.
32. Pháp ngữ dạy chúng thiền viện Huệ Chiếu.
33. Pháp ngữ dạy chúng thiền viện Phổ Chiếu

------------------------------

QUYỂN 3
------------------------------
PHÁP NGỮ DẠY CHÚNG THIỀN VIỆN TRÚC LÂM PHỤNG HOÀNG

1. Dẫn nhập
2. Khởi đầu
3. Diễn văn lễ Đặt đá xây dựng thiền viện Trúc Lâm
4. Diễn văn khai mạc lễ Khánh thành thiền viện Trúc Lâm
5. Thanh quy thiền viện Trúc Lâm
6. Nội quy Thiền phái Trúc Lâm
7. Cương lĩnh pháp tu thiền Biết có chân tâm
8. Phương pháp tọa thiền


Phần I - Giáo huấn chư Tăng nội viện

9. Tâm kiên cố trường viễn
10. Giờ nào cũng là giờ tu.
11. Chủ trương tu học tại thiền viện Trúc Lâm
12. Dạy chư Tăng Trúc Lâm ra làm Phật sự
13. Người tu quý trọng đạo đức
14. Khéo điều hòa trong tu tập
15. Tinh thần Tự tứ
16. Nguyện vọng của tôi
17. Ý nghĩa Lục hòa
18. Ái dục là cội gốc đi trong luân hồi sanh tử
19. Nhắc nhở tu hành
20. Tu là phải nhận ra cái chân thật
21. Giới căn bản
22. Bài pháp kỳ diệu
23. Chuyên tâm tu hành
24. Tu là tỉnh
25. Cân bằng việc tu học
26. Quên mình vì đạo
27. Ba việc phải làm
28. Tinh tấn
29. Thiền lý giải
30. Chăn trâu
31. Tu theo Thiền tông
32. Nói rõ đường lối tu hành
33. Tu thiền là tu trí tuệ
34. Đầu mối của luân hồi và giải thoát sanh tử
35. Bốn loại ma khi ngồi thiền
36. Mục đích tọa thiền
37. Điều phục thân tâm


Phần II - Giáo huấn chư Ni nội viện

38. Nhập thất tập thể
39. Sự khác biệt giữa hồi quang phản chiếu và phản quan tự kỷ
40. Người tu không nên nóng giận
41. Ông chủ bên trong.
42. Dẹp trừ ba con rắn độc
43. Hết lòng vì Tăng Ni
44. Hạnh phúc trước mắt
45. Trân quý nhân duyên tốt đẹp
46. Phấn phát tu tập.
47. Kiệm phước - Bòn phước - Tu đức - Tập hạnh 
48. Nương chúng tu học - Tùy duyên hóa độ
49. Xuất gia là phi thường
50. Những điểm thiết yếu trong sự tu
51. Tu là điều phục tâm
52. Hư thực khó phân
53. Tu là giác
54. Thân - tâm quý hay tiện
55. Nước chết không chứa được rồng
56. Ai cũng có Phật tánh
57. Nỗ lực tu hành
58. Kệ Mộng
59. Mây không ngoài bầu trời
60. Dạy chư Ni Trúc Lâm ra làm Phật sự

------------------------------

QUYỂN 4
------------------------------
PHÁP THOẠI TẠI MỘT SỐ THIỀN VIỆN - THIỀN TỰ VÀ ĐẠO TRÀNG PHẬT TỬ

1. Dẫn nhập

Phần I. Pháp thoại tại một số thiền viện - thiền tự trong nước

2. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Chùa Lân)
Khái quát về tinh thần Trúc Lâm Yên Tử.
Về thăm Trúc Lâm Yên Tử.
Cái biết chân thật
3. Thiền viện Sùng Phúc.
Tu là thoát khỏi luân hồi sanh tử
4. Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.
Tích lũy thiện nghiệp
5. Thiền viện Sơn Thắng
Nhắc lại nhân duyên xưa
6. Thiền viện Hiện Quang
Thăm Hiện Quang.
7. Thiền viện Hương Hải
Hoa hay là rác
8. Thiền viện Phúc Trường
Giáo huấn các vị lãnh Phật sự
9. Thiền viện Đại Đăng (Hoa Kỳ).
Hòa thượng dạy nhân lễ Khánh thành
Tánh không duyên khởi, chân không diệu hữu..
10. Thiền viện Quang Chiếu (Hoa Kỳ).
Nói chuyện với chư Ni nhân ngày cuối năm Nhâm Ngọ
11. Thiền tự Bồ Đề (Hoa Kỳ)
Ý nghĩa thiền tự Bồ Đề.
12. Thiền viện Hoa Nghiêm (Hoa Kỳ).
Ái là gốc của luân hồi sanh tử
13. Thiền tự Hương Hải (Canada)
Người giành khôn là kẻ dại người chịu dại tức kẻ khôn
14. Thiền tự Đạo Viên (Canada).
Phản quan tự kỷ
15. Chùa Bồ Đề (Canada)
Nói về hai chữ Bồ Đề..
16. Thiền đường Trúc Lâm Phúc Đức (Úc Châu)
Ý nghĩa chữ Phúc Đức
17. Thiền viện Trúc Lâm (Pháp)
Hai ông vua xem ngai vàng như dép rách
18. Chùa Việt Nam (Hoa Kỳ)
Phước tuệ song tu
19. Chuẩn bị cho mình mai sau
20. Một ngọn núi ba con đường


Phần III. Pháp thoại tại một số chùa đạo tràng Phật tử trong nước

21. Đạo Phật là đạo của tất cả mọi người
(Chùa Phật Quang - Bến Tre)
22. Ý nghĩa Phước Hậu
(Chùa Phước Hậu - Vĩnh Long) 
23. Cội nguồn Phật pháp
(Chùa Quan Âm - Đà Lạt)
24. Hai chữ Huyền Không
(Thiền tự Huyền Không - Huế).
25. Giảng đạo tại tràng Thái Tuệ.
26. Giảng tại đạo tràng Tuệ Tâm.
27. Đạo Phật vì con người, xoáy sâu vào con người
(Đạo tràng Trúc Lâm Tuệ Phát) .
28. Căn bản tu hành của Phật tử.
29. Tu là xây dựng bản thân.
30. Chữ dũng trong đạo Phật.
31. Nói cho người già bệnh.
32. Xây dựng một sự nghiệp bất hoại
33. Chết có phải là hết
34. Cuộc đời là mâu thuẫn.
35. Người Phật tử phải tu như thế nào
36. Vu Lan mùa báo hiếu
37. Tại sao Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, trì chú và tọa thiền
------------------------------
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây