PHẬT HỌC TINH YẾU (BỘ 3 TẬP) - HT THÍCH THIỀN TÂM PHẬT HỌC TINH YẾU (BỘ 3 TẬP) - HT THÍCH THIỀN TÂM Soạn Giả: Thích Thiền Tâm
NXB: Tôn Giáo
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2016 
Quyển 1: 266 Trang -  Dày: 1,5cm
Quyển 2: 222 Trang -  Dày: 1,2cm
Quyển 3: 238 Trang – Dày: 1,2cm
PHTY Sách giáo lý 90.000 đ Số lượng: 1000010 Bộ
  • PHẬT HỌC TINH YẾU (BỘ 3 TẬP) - HT THÍCH THIỀN TÂM

  •  737 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: PHTY
  • Giá bán: 90.000 đ

  • Soạn Giả: Thích Thiền Tâm
    NXB: Tôn Giáo
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2016 
    Quyển 1: 266 Trang -  Dày: 1,5cm
    Quyển 2: 222 Trang -  Dày: 1,2cm
    Quyển 3: 238 Trang – Dày: 1,2cm


Số lượng
ÐÔI LỜI PHI LỘ

Ba tạng Kinh-điển của Phật-giáo hiện nay gồm có đến hơn vạn quyển. Trong ấy, những Kim-ngôn của Ðấng Ðiều-Ngự và huyền-nghĩa của chư Tổ, hàm ẩn Ðạo-lý thâm thúy vô biên. Muốn du ngoạn trong bể Phật-pháp bao la, hay lên đỉnh non thánh-giáo để nhìn khắp nơi bằng tầm mắt càn-khôn-nhất-lãm, phải phí nhiều thời giờ và tâm lực, mà giữa cuộc sống nhiều vướng bận ngày nay, ít ai làm nổi. Vì lẽ ấy, đã từ lâu bút giả có ý muốn gom góp phần tinh yếu của thánh-giáo viết ra thành tập, để giúp những vị mến đạo mầu của Ðức Thế-Tôn, có sự hiểu biết khái quát về pháp Phật. Và ý định nầy đã được thực hiện từ năm 1963, nhân lúc sắp sửa ra đảm nhận trường Phật-Học Huệ-Nghiêm.

 
phật học tinh yếu


Nội dung của toàn tập PHẬT HỌC TINH YẾU sau đây gồm có nhiều thiên, mỗi thiên phân thành nhiều chương, và mỗi chương bao hàm nhiều mục. Ðó là hệ thống phân biệt để duyệt giả dễ ghi nhận. Ðiều đáng chú ý là phần trích dẫn những Kinh-luận trong đây, nghĩa lý nó không có tánh cách nhất định. Tại sao thế? Bởi giáo pháp của thánh-nhân nói ra đều tùy thời tùy cơ để dắt dìu, phá chấp. Có thể một lời thuyết giáo đối với căn cơ nầy thích hợp nhưng với cơ khác không thích hợp, với thời gian trước tiện nghi song với thời nay không tiện nghi. Cho nên một vị tôn túc đã bảo: “Y theo Kinh giải nghĩa là oan cho chư Phật ba đời, nhưng lìa Kinh một chữ tức đồng với ma thuyết”. Vậy chỗ thu thập của người khéo học Phật là không chấp Kinh, không bỏ Kinh, như người đời đã bảo: “Khôn chết, dại cũng chết, duy biết mới sống”. Và người khéo học Phật cũng đừng chấp lý bỏ sự, hay chỉ theo sự quên phần lý. Về việc được ý quên lời nầy, duy mỗi người tự thể hội, không thể nói hết được. “Trần chẳng tương quan, bể cả nương dâu mặc thay đổi. Lòng không sở đắc, thông xanh mây trắng tự vui nhàn”. Xin mượn hai câu nầy để chúc sự thành tựu của duyệt giả sau khi đọc xong toàn tập PHẬT HỌC TINH YẾU.
Ngày 12-8-1965
Tỳ-khưu Thiền Tâm, tự Liên Du



TRÍCH ĐOẠN:

CHƯƠNG MỘT - XÃ HỘI ẤN ÐỘ TRƯỚC KHI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI
Tiết I: Nguồn Gốc Dân Tộc Ấn Độ
Một tôn-giáo không luận là cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng vẫn là sản phẩm của xã hội. Là sản phẩm của xã hội, tất nhiên tôn-giáo ảnh hưởng đến xã hội và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của xã hội. Đó là điều không thể tránh.

Phật-giáo có một lịch sử trên hai ngàn năm, đông tây truyền bá đến vài mươi nước. Ngoài năm xứ của Ấn-Độ, Phật-giáo đã gieo rắc rất nhiều ảnh hưởng ở các nơi. Trong sự gieo rắc ấy, qua mỗi thời đại, Phật-giáo lại tùy theo tình trạng xã hội của mỗi địa phương mà có ít nhiều biến thái về bản sắc. Vì thế, muốn nói đến điểm xuất phát của đạo Phật, không thể đi sâu vào bối cảnh lịch sử của Ấn-Độ đương thời.

Trước đây độ trên bốn ngàn năm, dân tộc xưa nhất của Ấn-Độ là giống người Nhã-Lỵ-An (Aryan). Chủng tộc nầy lấy nghề du mục để sinh sống. Trước tiên họ cư trụ ở miền trung nguyên Á-Tế-Á, rồi vượt qua dãy núi Tín-Độ-Khố-Tư (Hindukush), dời xuống vùng đông nam Á-Tế-Á. Từ nơi đây, họ chia làm hai bộ, một bộ di chuyển về phía tây nam vào xứ Ba-Tư (Iran); một bộ tiến thẳng về phía đông nam vào xứ Ca-Nhĩ-Bố (Kabul) và lần xâm nhập miền Tây-bắc Ấn-Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lãnh vùng Bằng-Xà-Bạch (Panjab Ngũ-Hà địa phương) thuộc thượng lưu Ấn-Độ hà (Indus). Sau đó, họ lại đi dọc theo dãy núi Tuyết (Hymalaya), vào ở tại lưu vực sông Hằng (Ganga, Gange). Cuộc di cư sau nầy, thuộc vào khoảng 1000 năm trước kỷ nguyên. Trong mười vạn bài tụng của bộ Đại-sử-thi Ma-Ha-Bà-La-Đa (Mahàbhàrata), có nói rõ những chiến sự và tình trạng giữa thời gian đó. Còn cuộc di chuyển tiếp tục về Nam-Ấn, ước vào khoảng 500 năm trước kỷ nguyên. Trong khoảng thời gian nầy, để ghi lại sự giao tranh giữa thổ nhơn và chủng tộc Nhã-Lỵ-An, người Ấn-Độ đã mượn cảnh động tác của cá nhơn mà làm ra bộ La-Ma-Diễn-Noa (Ramayana), gồm hai vạn bốn ngàn bài tụng.


Tiết II: Bốn Thứ Phệ Ðà
Giữa thời kỳ chiếm lãnh Ấn-Độ hà, thuộc miền Tây-bắc Ấn, giống người Nhã-Lỵ-An được gọi là dân tộc Nhã-Lỵ-An Ấn-Độ. Gặp nơi khí hậu ấm áp, thời tiết điều hòa, vật sản phong phú, dân tộc ấy hưởng một đời sống an nhàn, vui vẻ. Vì thế, đối với bầu trời man mác, với hiện tượng nhựt, nguyệt, tinh tú, non, sông, gió, mây, nước, lửa, họ đều có một ý niệm tín thành sùng bái. Đó là những lý do người ta đã sáng tác ra những bản thánh-ca và nghi thức cúng tế thần-linh, để cầu cho đất nước gia đình được tiêu tai, thêm phước. Nghi thức đã nhiều thì không thể ai cũng thông thạo cả, phải có người chủ chốt việc tế tự. Nhân đó mới sản xuất một hạng Tăng-lữ, về sau thành giai cấp Bà-La-Môn (Brahman).

Bà-La-Môn, Trung-Hoa dịch là Tịnh-hạnh hoặc Phạm-hạnh, chỉ cho phái tu hạnh trong sạch. Kinh-điển của phái nầy gọi là Phệ-Đà (Veda), Trung-Hoa dịch là Minh-luận hoặc Trí-luận, có nghĩa: Kinh sách thuyết minh sự thật và phát sanh trí huệ. Kinh-điển của đạo Bà-La-Môn truyền lại có 4 thứ:

1. Lê-Câu Phệ-Đà (Rig-Veda): Trước tiên, dân tộc Ấn-Độ chỉ sùng bái ca ngợi những hiện tượng của tự nhiên vật. Lần lần họ tin tưởng mỗi hiện tượng đó đều có thần linh làm chủ. Các thần linh đều có tính cách đạo đức, có quyền thưởng phạt thế gian. Đồng thời lại do sự hàm dưỡng của tư tưởng triết học, họ dung hợp lại, chế tác ra bộ kinh đầu tiên là Lê-Câu Phệ-Đà. Lê-Câu Phệ-Ðà, Trung-Hoa dịch là Tán-Tụng-Minh-Luận hoặc Thọ-Minh. Nội dung của kinh nầy gồm những bài ca tán có tính cách thần thoại, nhưng cũng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan. Trong ấy lại có biên tập về thuật dưỡng sanh, dạy những phương pháp làm cho con người dung sắc thường tươi trẻ, mạng sống được lâu dài. Tư tưởng của Lê-Câu Phệ-Ðà là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh và triết học Ấn-Độ và cũng là cơ sở để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.

2. Dạ-Du Phệ-Ðà (Yajur Veda): Từ nơi sự ca ngợi tự nhiên vật rồi tin tưởng thần linh, người ta lại bày ra những nghi thức thờ phụng cúng tế. Đây là nguyên nhân sản xuất kinh Dạ-Du Phệ-Ðà. Dạ-Du Phệ-Ðà, Trung-Hoa dịch là Tế-Tự-Minh-Luận, gọi tắt là Tự-Minh. Nội dung của Kinh-điển nầy, phần nhiều đều trích dẫn trong Lê-Câu Phệ-Ðà, lấy cơ bản của sự tán tụng mà chế tác. Trong ấy, ngoài việc biên tập về nghi thức cúng tế, lại có ghi chép những bài chú văn để tế tự trong các mùa. Xét qua từ Lê-Câu Phệ-Ðà, cho đến Da-Du Phệ-Ðà, người ta nhận thấy tôn-giáo thời ấy tuy là đa thuần mà kiêm sắc thái nhất thần, đôi khi lại xen tạp những tư tưởng về các môn triết học.

3. Sa-Ma Phệ-Ðà (Sàma Veda): Để cho sự tán ca được tiện lợi, và bổ túc phần nghi lễ thêm hoàn bị, người ta lại sáng chế kinh Sa-Ma Phệ-Ðà. Kinh-điển nầy cũng trích dẫn một phần các tụng văn trong Lê-Câu Phệ-Ðà mà làm ra. Sa-Ma Phệ-Ðà, Trung-Hoa dịch là Ca-Vịnh-Minh-Luận, cũng gọi là Bình-Minh. Trong đó, ngoài sự ghi chép về nghi lễ, âm nhạc, luật lệ xử đoán, lại có giảng dạy về môn bốc toán cho đến binh pháp đồ trận. Căn cứ theo ba pho kinh Phệ-Đà trên đây, mỗi khi cúng thần, người ta đều dùng những vị tế tăng riêng biệt.

4. A-Thát-Bà Phệ-Ðà (Atharva Veda): Về sau, có kẻ lại tập hợp những bài chú thuật cổ truyền, được người đời tin tưởng, viết ra kinh A-Thát-Bà Phệ-Ðà. A-Thát-Bà Phệ-Ðà, Trung-Hoa dịch là Nhương-Tai-Minh-Luận, cũng gọi là Thuật-Minh. Trong ấy, người ta ghi chép những bài chú để cầu phước, tiêu tai. Ngoài ra, Kinh-điển nầy cũng có dạy về y phương và nhiều dị thuật. Bốn thứ kinh trên đây, được gọi chung là Tứ-Phệ-Ðà thánh-điển. Đó là một hệ thống tư tưởng về thời xưa của Ấn-Độ.

 
phật học tinh yếu 1



Tiết III: Sự Diễn Biến Của Phệ Ðà
Từ khi Tứ-Phệ-Ðà thánh-điển được thành lập, chủng tộc Bà-La-Môn chiếm địa vị tối cao trong xã hội, và thành ra một giai cấp Tăng-lữ. Họ không còn những hoạt động hướng ngoại như khi trước, mà có một cuộc sống trầm tư, hướng nội, bảo thủ những truyền thuyết tán tụng, những nghi thức cúng tế theo xưa. Các Tăng-lữ lại thẩm định những câu văn, ý nghĩa trong kinh Phệ-Ðà, rồi giải rộng thêm ra, gây thành một học phong phiền tỏa và thần bí. Đồng thời trên hình thức tôn-giáo, những hành nghi cũng tăng thêm phần bí mật. Khi giáo lý càng rộng, sự suy biện càng sâu, nghi thức càng phiền, thì địa vị của giai cấp Bà-La-Môn càng được bền vững. Do đó nền văn học, đạo đức trong xã hội, nằm yên trong nếp cũ, dường như ở trong trạng thái khó nỗi chấn hưng.

Tuy nhiên, cảnh đời đã vô thường, thì nguồn tư tưởng của nhân loại cũng theo thời gian mà biến đổi. Từ khi giai cấp Tăng-lữ mới thành lập, cho đến khoảng 600 năm trước kỷ nguyên, nếu phân tích kỹ, chúng ta có thể chia nền học thuyết của Bà-La-Môn giáo thành ba thời đại:

1. Thời đại Phệ-Ðà-Thiên-Thơ (Veda): Thời đại nầy khởi thủy từ khi bốn mươi quyển Lê-Câu Phệ-Ðà vừa được sáng tác, lúc dân tộc Nhã-Lỵ-An di cư xuống Ấn-Độ-hà, vào khoảng 2500 - 1000 năm trước kỷ nguyên. Trong thời gian nầy, giáo đồ Bà-La-Môn thiên về sự sùng bái cúng tế, hình thức phần chánh thuộc về Đa-thần-giáo. Họ có ba cú thoại (luận điệu): Phệ-Ðà là thiên thơ (sách của Trời), Bà-La-Môn là chủng tộc cao quí nhất của nhân loại, tế lễ là vạn năng.

Những tư tưởng trên, được truyền lại một thời gian lâu xa về sau. Cho đến khi Phật giáng sinh, một số đông giáo đồ Bà-La-Môn vẫn còn bảo thủ lấy quan niệm cũ. Nhưng đó là một chủ nghĩa chuyên chế, họ không thể trói buộc mãi được lòng người khi tình thế đổi mới. Hơn nữa, lúc bấy giờ giáo đồ Bà-La-Môn rất kiêu xa, cho nên họ không thể duy trì một cách hữu hiệu sự tín ngưỡng của đạo mình trong xã hội nữa.

2. Thời đại Phạm-Thơ (Brahmana - Thần-học-thơ): Thời đại nầy vào khoảng 1000 - 800 năm trước kỷ nguyên, lúc dân tộc Nhã-Lỵ-An Ấn-Độ di chuyển về phía Ðông Nam, chiếm lãnh khu vực đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng, lấy nghề canh nông làm mục tiêu. Hình thức của Phệ-Ðà khi xưa thiên về Đa-thần-giáo, việc tế lễ rất nặng nề, phiền phức. Đến thời gian nầy, dân chúng sanh ra chán những nghi thức nghiêm cách ấy. Vì thế, trong các vị thần, người ta chọn lấy ít vị quan trọng để làm trung tâm tín ngưỡng. Ba vị thần phổ thông nhất bấy giờ là Phạm-Thiên (Brahma), Tỳ-Nựu-Noa-Thiên (Visnu) và Thấp-Bà-Thiên (Civa). Thế là đối tượng tín ngưỡng đã bắt đầu chuyển lần từ Đa-thần-giáo sang Nhất-thần-giáo.

Về mặt tư tưởng, từ khi Kinh-điển Phệ-Ðà được suy diễn rộng thêm, giáo lý Bà-La-Môn đượm vẻ thần bí; người ta gọi đó là học thuyết Bà-la-ma-noa, tức Phạm-thơ. Phạm-thơ là bộ sách chú thích và thuyết minh kinh Phệ-Ðà. Phần chủ yếu của sách nầy, đều rút những tài liệu trong Tứ-Phệ-Ðà thánh-điển, nhưng suy diễn sâu rộng đến chỗ u vi, hoàn toàn có tính cách thần học. Tư tưởng triết học của Phạm-thơ tiến triển theo thứ tự trong ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, Phạm (Brahma) là vị thần tối cao, trước tiên tạo ra trời đất, rồi đến Thái-dương thần, Phong thần, Hỏa thần... con người và vạn hữu. Vì thế Phạm cũng có hiệu là Sanh-chủ (Prajapati). Giai đoạn nầy thiên về quan niệm sáng tạo, lấy thần Sanh-chủ làm trung tâm điểm.

Giai đoạn thứ hai, Phạm là Đại-ngã (Svayambhu), là bản thể của vũ trụ, có tính cách tuyệt đãi độc tồn. Giá trị của Phạm đứng trên hai phương diện: Một mặt thì duy trì cái bản chất không biến động của nó; mặt khác lại hoạt động theo hai yếu tố là Danh (Nama) và Sắc (Rupa) để mở mang vạn hữu. Giai đoạn nầy thiên về quan niệm bất biến, lấy Đại-ngã làm trung tâm điểm.

Giai đoạn thứ ba, Phạm là Tự-ngã (Atman). Phạm và Tự-ngã tên tuy khác nhau, nhưng cùng một thể. Sở dĩ có tên khác nhau như thế, vì Tự-ngã do sự suy lý của triết học, chỉ định cho là nguồn gốc của muôn vật; còn Phạm thì do sự khảo sát của thần học, chỉ định cho là tự tánh của muôn vật. Tự-ngã thuộc về phương diện tâm lý (linh hồn), Phạm thuộc về phương diện vũ trụ (linh tánh). Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất diệt, khi con người chết thì Tự-ngã lìa thể xác mà quy thuộc về Phạm. Giai đoạn nầy lấy Tự-ngã làm trung tâm điểm.

3. Thời đại Áo-Nghĩa-Thơ (Upanishad): Thời đại nầy thuộc vào khoảng 800 - 600 trước kỷ nguyên. Từ nơi Phạm-thơ, người ta suy diễn rộng thêm, cho rằng khi hành nghi thức đã có hàm triết lý bên trong, và nghi thức tế tự là biểu hiện cho triết lý. Để ký thuật đạo lý nầy, người ta sáng chế ra sách A-Lan-Nhã-Ca (Aranyaka). A-Lan-Nhã-Ca có nghĩa là Lâm-trung-thơ. Bởi người trong chủng tộc Bà-La-Môn đến khi lớn tuổi thì ẩn cư nơi rừng vắng, lấy sự tế tự tu hành làm thường khóa. Những nghi thức ấy đều ghi chép trong sách nầy. Nhưng nội dung của Lâm-trung-thơ không phải chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự, mà gồm có môn triết lý cao siêu.

Từ Lâm-trung-thơ, người ta nghiên cứu rộng thêm, rồi sáng tác ra bộ Ưu-Ba-Ni-Sa-Đàm, tức là Áo-nghĩa-thơ. Danh từ Áo-nghĩa-thơ bao hàm những ý: Môn triết học trong triết học, Bí-mật ngữ, Bí-mật văn và Bí-mật nghĩa. Bộ phận chủ yếu của nguồn tư tưởng nầy, do chủng tộc Sát-Ðế-Lỵ khai sáng, về sau dòng Bà-La-Môn mới phụ họa suy diễn rộng thêm. Nội dung của Áo-nghĩa-thơ chủ trương thuyết “Phạm, Ngã đồng nhất”, Phạm cùng Ngã đều là một bản thể của vũ trụ. Các hiện tượng của sai biệt giới đều là huyễn pháp (Maya) không ngoài bản thể ấy mà có. Lý tưởng giải thoát của Áo-nghĩa-thơ chia làm hai phần:

Phần thứ nhất là việc đi tìm giải thoát, nhưng giải thoát phải tìm chính nơi mình, không phải ở bên ngoài. Con người sở dĩ bị luân-hồi là do Vô-minh (Avidya) che lấp, không biết sai biệt giới là giả huyễn. Từ Vô-minh sanh Ái-dục (Kàma), rồi tạo nghiệp, gây ra sự khổ trong đường sanh-tử. Muốn được giải thoát, phải có tinh thần tự giác hướng về Trí-minh (Vidya) mà trừ cái gốc Vô-minh. Hướng về Trí-minh là an trụ tâm vào bản tính trong lặng để bồi dưỡng phần trí huệ. Khi tâm đã thuần tịnh, tự nhiên được giác ngộ, nảy sanh trí huệ, thấy sự sống chết như chiêm bao. Phạm và Ngã thầm hợp, không còn luân-hồi, chứng được Phạm-niết-bàn (Brahma nirvana). Đây là phần lý thuyết.

Phần thứ hai là phải y theo pháp thức tu trì để phát minh trực quán trí. Pháp thức nầy lại có hai phương diện: một mặt là cần giữ giới, lìa tất cả dục cảnh để thành hạnh Xả-ly (Samuyasa); mặt khác, phải trừ vọng tình, chuyên tâm nơi ngã tướng để thành hạnh Du-già (Yoga - tương ưng quán). Cứ như thế mà tu, lần lần chân ngã sẽ toàn hiện, tức là được giải thoát, chấm dứt luân-hồi. Đây là phần thực hành.

Tóm lại, ba thời đại trên đây đã cho chúng ta thấy sự diễn biến của giáo lý Phệ-Ðà, từ nơi thô sơ đến chỗ u vi thần bí. Riêng về Áo-nghĩa-thơ, các nhà nghiên cứu triết học Ðông Tây đều tán dương, cho là một sản phẩm trí huệ cao siêu của nhân loại. Về sau, các học giả nương theo tư trào nầy mà lập ra nhiều giáo phái, như phái Số-luận thì cho Ngã là Thần-ngã, Huyễn là Tự-tánh, danh từ tuy khác, nhưng lý tưởng vẫn đồng. Phật-giáo cũng nương theo một phần trọng yếu của Áo-nghĩa-thơ, như thuyết luân-hồi, nhưng canh tân thêm, thành ra sâu sắc và hoàn bị hơn. Ngoài ra cũng có nhiều học giả thoát ly tư tưởng Phệ-Ðà, chủ trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự nhiên. Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy những học thuyết ấy.


 
phật học tinh yếu 2


Tiết IV: Bốn Giai Cấp Của Xã Hội Ấn Độ
Thuở xưa, dân tộc Ấn-Độ rất cung kính thần linh, tôn trọng nghi thức cúng tế. Lúc đầu, họ đặt ra người Gia-trưởng, hoặc Tộc-trưởng, để giữ việc tế lễ, gọi là chức Ty-tế. Lần lần, chức Ty-tế nầy trở thành việc chuyên môn, nên được thay thế bằng các Tăng-lữ. Mặt khác, vì theo đà tiến triển của xã hội, lại phát sanh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, Nông, Công, Thương. Các nghề nghiệp nầy lần lần trở thành giai cấp hóa. Giai cấp Tăng-lữ chủ về việc tế tự, chiếm địa vị tối cao. Giai cấp Vua chúa nắm giữ chánh quyền, ở vào địa vị thứ hai. Nhơn dân phổ thông như hạng nông, công, thương, thuộc về địa vị thứ ba. Còn hạng người thổ dân của Ấn-Độ bị Nhã-Lỵ-An chinh phục, chuyên theo nghề nghiệp thấp kém như ở đợ, làm mướn, là giai cấp tiện dân, ở vào địa vị thứ tư.

Lối phân chia giai cấp đó, mỗi ngày thêm chặt chẽ. Ban sơ, sự phân biệt chỉ ở trong quan niệm của dân chúng mà thôi. Nhưng khi các Tăng-lữ nắm được thật quyền trong xã hội họ liền tổ chức thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng-lữ thuộc giai cấp Bà-La-Môn (Brahman), vua chúa thuộc giai cấp Sát-Ðế-Lỵ (Ksatriya), bình dân thuộc giai cấp Phệ-Xá (Vaisya), Tiện dân thuộc giai cấp Thủ-Ðà-La (Sùdra). Hai hạng trước là giai cấp thống trị, hai hạng sau là giai cấp bị trị. Bốn giai cấp nầy theo chế độ thế tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ, gây ra một tổ chức xã hội bất công.

Giai cấp Bà-La-Môn lại nương vào chế độ của xã hội mà quy định thành bốn thời kỳ của chủng tộc mình. Bốn thời kỳ đó như sau:

1. Phạm-trí-kỳ (Brahmacàrin): Thời kỳ du học của buổi thiếu niên và tráng niên. Người trong chủng tộc Bà-La-Môn, vào khoảng từ 7 tới 15 tuổi, thì học tập ở nhà; từ 16 tới 39 tuổi, phải xuất-gia theo thầy học tập Phệ-Ðà thánh-điển. Đến khi học nghiệp thành tựu lại được trở về nhà.

2. Gia-cư-kỳ (Grhastha): Thời kỳ sinh hoạt gia đình của buổi trung niên. Khi đã được 40 tuổi, người Bà-La-Môn phải trở về nhà lập gia đình để cho dòng dõi không bị tuyệt. Thời gian nầy họ theo chức nghiệp, làm trọn nhiệm vụ tế tự của người gia trưởng.

3. Lâm-cư-kỳ (Vànaprastha): Thời kỳ tu dưỡng của buổi mộ niên. Lúc 50, 51 tuổi sắp lên, người Bà-La-Môn đã làm xong nhiệm vụ gia đình, phải lìa nhà vào nơi núi sâu rừng vắng để tu luyện.

4. Du-hành-kỳ (Parivràjaka): Thời kỳ du hành vừa tự tu vừa hóa đạo của buổi lão niên. Thời kỳ nầy không nhất định, tùy theo tu nghiệp được vững vàng, mà sự xuất thế có sớm hay muộn. Trong khoảng thời gian sau cùng, hàng Bà-La-Môn muốn cho thân tâm được tự tại giải thoát, nên nơi ăn chốn ở không nhất định, rày đây mai đó. Cho nên người tu ở thời kỳ nầy có tên là Khất-sĩ (Bhiksu) hay Hành-giả (Yati).

Bốn thời kỳ kể trên là lý tưởng sinh hoạt của giai cấp Bà-La-Môn. Theo đó, nếu người nào tu hành đạt tới chỗ cứu cánh, thì được mọi người cung kính tột bậc.

Chủng tộc Bà-La-Môn đã chế định ra bốn giai cấp, tự cho mình ở địa vị tối cao. Còn ba giai cấp kia, nhất là hàng tiện dân, lại bị xã hội khinh miệt, không được luật pháp bảo hộ, không cho dự phần tín ngưỡng tôn-giáo và tán tụng Kinh-điển Phệ-Ðà. Thời bấy giờ ở Ấn-Độ người ta lại chế ra thứ luật Ma-noa (Mànu), hỗn hợp cả chính-trị lẫn tôn-giáo. Nhờ có pháp luật nầy, tổ chức của đạo Bà-La-Môn mới được hoàn thành. Bởi giáo lý của đạo ấy, là nương vào tư tưởng của phái Phệ-đàn-đà, lấy việc duy trì giai cấp bốn chủng tộc làm mục đích duy nhất. Sống dưới một chế độ bất công như thế, lâu ngày dân chúng đâm ra chán nản, hằng ước ao có một cuộc đổi mới. Sự phát sanh của các học thuyết như: chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa yếm thế sau đây, phần lớn cũng bởi nguyên nhân nầy.


 
phật học tinh yếu 3



CHƯƠNG HAI - NỀN HỌC THUYẾT ẤN ÐỘ TRƯỚC PHẬT GIÁO
Tiết I: Điểm Xuất Phát Của Các Tôn Giáo

Giữa cuộc đời sai biệt, con người tất cũng có những sở thích và tư tưởng khác nhau. Cuộc sống thế gian không làm cho nhân sanh hoàn toàn hạnh phúc. Để thỏa mãn những tâm niệm ấy, các giáo phái đã hiện ra đời. Điểm xuất phát nầy đại để có ba nguyên nhân:

1. Do khổ muốn cầu thoát ly: Trên con đường gập ghềnh, giữa lúc trời trưa nắng gắt, khách lữ hành mỏi mệt ước ao có một cơn gió, một bóng cây mát để nghỉ ngơi. Trên đường đời cũng thế, sự vui dù có, cũng chỉ là tương đối. Vì vui tương đối nên mới có khổ, mà sự khổ lại thường chiếm phần tối đa. Và vì khổ, con người mới nảy sanh tư tưởng cầu thoát ly.

2. Do sự sùng tín trước hiện tượng của vũ trụ: Trong thời đại tối sơ, con người chưa giải thích nổi những nghi vấn trước hiện tượng của vũ trụ. Cho nên họ quan niệm rằng: mọi ánh sáng giữa bầu trời đều là những phẩm cách thần-thánh. Cũng vì thế, họ mới sùng bái các hiện tượng sáng suốt như: mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, làn chớp, ngọn lửa. Họ tin tưởng đủ mọi phương diện. Tựu trung, mục đích sùng bái của họ không ngoài dục vọng sanh tồn cho bản thân. Rồi do đó mới có những hình thức thờ phượng để trừ tai, cầu phước và những hành nghi cúng tế, ca tụng thần-thánh. Vì thế mới có các lối tư tưởng sai biệt, mà người ta gọi là Đa-thần-giáo.

3. Do sự cầu giải thích nguyên lý nhơn sanh, vũ trụ: Lại có một hạng người, trước đối tượng vũ trụ bao la, họ động tánh hiếu kỳ, muốn tìm hiểu các sự bí mật giữa trời đất. Lối giải thích thần thoại không làm thỏa mãn họ. Căn cứ vào những Kinh-điển xưa và sự tu tập của bản thân, họ tự do khảo cứu và lập ra các phái triết học.

Tóm lại, điểm xuất phát của các giáo phái, đại để như: cầu thoát khổ được an vui, dựa trên tin tưởng sùng bái, và tìm hiểu mọi sự bí mật để đem con người trở về vũ trụ. Giáo nghĩa Phệ-Ðà mà chúng ta đã thấy ở chương đầu và các học thuyết sau đây là những điểm chứng minh cho các nguồn tư tưởng ấy.

 
Tiết II: Lục Đại Học Phái
Như trên đã nói, giáo lý Phệ-Ðà diễn biến trong ba giai đoạn mà chúng ta gọi là ba thời đại: Phệ-Ðà-thiên-thơ, Phạm-thơ và Áo-nghĩa-thơ. Trong lúc ấy, lại có những phái chịu ảnh hưởng Phệ-Ðà, căn cứ vào đó mở mang thêm cho giáo lý của mình có hệ thống; cũng có nhiều học giả thoát ly ngoài tư tưởng Phệ-Ðà, chủ trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự nhiên. Vì thế ở Ấn-Độ thuở bấy giờ có nhiều phái nối nhau xuất hiện như Địa-luận, Phục-thủy-luận, Hỏa-luận, Phong-tiên-luận, Thời-luận, Phương-luận, Hư-không-luận...

Các phong trào tư tưởng đó, hoặc dung hòa, hoặc xung đột lẫn nhau, làm cho nền học thuyết của Ấn-Độ lâm vào một tình trạng rất rối ren. Tuy nhiên, nếu kiểm điểm lại, ta có thể chia các tư trào lúc bấy giờ thành hai hệ thống: hệ thống Phệ-Ðà và hệ thống phản Phệ-Ðà. Hệ thống Phệ-Ðà tuy nhiều nhưng đáng kể chỉ có Lục-đại-học-phái. Còn hệ thống phản Phệ-Ðà thì có Lục-sư-ngoại-đạo. Trước tiên, chúng ta thử xét qua học thuyết của sáu môn phái lớn thuộc hệ thống Phệ-Ðà, tức là Lục-đại-học-phái:

1. Phái Phệ-Ðàn-Đà (Vedanta: Tự-tại-thiên): Vị khai tổ của bản phái là Bà-Đạt-La-Gia-Na (Bàdarayana). Phái nầy lấy kinh Phệ-Ðàn-Đà do Bà-Đạt-La-Gia-Na trứ tác làm căn cứ. Kinh Phệ-Ðàn-Đà cũng dựa theo giáo nghĩa chánh thống của Phệ-Ðà, song được phát minh thêm. Phái nầy chủ trương rằng Phạm (Brahma) là nguồn gốc của muôn loài, là một thứ biểu hiện về tinh thần, không phải vật chất mà là năng lực. Phạm là duy nhất, siêu việt, bao trùm cả muôn loại trong thế gian. Tự ý chí của Phạm khai triển thành hiện tượng giới, trước tiên là Hư-không, rồi từ Hư-không phát sanh ra Gió, từ Gió phát sanh ra Lửa, từ Lửa phát sanh ra Nước, từ Nước phát sanh ra Đất. Năm nguyên tố nầy một mặt được tổ chức thành khí thế gian, mặt khác thành hữu-tình thế gian. Theo kinh Phệ-Ðàn-Đà thì Phạm và Tự-ngã là một thể. Trong giai đoạn chưa khai triển, Tự-ngã là bào thai của Phạm; nhưng khi ở giai đoạn đã khai triển thì Tự-ngã có địa vị độc lập, chịu phần chi phối của Phạm. Đặc chất của Tự-ngã là Trí-huệ. Bởi hành vi con người nương theo sự phán đoán của tự do ý chí nên gây ra nhiều tác nghiệp. Do sự huân tập của tác nghiệp, nên chúng-sanh bị lạc mất nguồn gốc trí huệ, chịu nhiều nỗi khổ trong nẻo luân-hồi. Theo phái nầy thì loài hữu-tình là một bộ phận của Phạm, có đầy đủ thể tánh thanh tịnh như Phạm. Muốn trở về với Phạm, cần phải rời khỏi mọi sự chấp trước sai biệt, y theo môn giải thoát mà tu hành. Do công tu tập lâu ngày, Tự-ngã lại được dung hợp với Phạm. Đến giai đoạn nầy mới gọi là hoàn toàn giải thoát.

2. Phái Di-Man-Tát (Mìmàmsà: Thanh-thường-trú): Vị khai tổ của bản phái là Sà-Y-Nhĩ-Ni (Jaimini). Phái nầy lấy kinh Thanh-thường-trú (Mìmàmsàsutra) làm căn cứ, những điều cấm chế vẫn y theo thánh-điển Phệ-Ðà. Đồ chúng của phái Di-Man-Tát rất chú trọng về phương diện luân lý triết học, và chủ trương thuyết Âm-thanh-thường-trú. Về chủ thuyết nầy, giáo chúng chia ra làm hai phe:

- Một là do hạng Bà-La-Môn chấp theo bốn bộ luận Phệ-Ðà. Họ cho rằng khi tụng kinh Phệ-Ðà phát ra phạm-âm, lời và tiếng đều khế hợp với thật nghĩa, nên gọi là “thường”. Các thứ tiếng khác không hợp với thật nghĩa, nên gọi là vô thường.
- Hai là sở chấp do hạng Bà-La-Môn học theo Tỳ-dà-la-luận (tức Học-tập-thanh-luận); phe nầy lại có hai chi:

a. Chi Thanh-hiển-luận cho rằng: tánh của tiếng là thường trú, đợi các duyên tầm, từ và danh, cú, văn-thân mới phát. Danh, cú, văn-thân là âm hưởng nên vô thường; tiếng là “thường”.
b. Chi Thanh-sanh-luận thì cho rằng: âm thanh bản lai không thật có, đợi các duyên mới phát. Nhưng khi âm thanh đã phát sanh, thì là thường trú bất diệt.

Tóm lại, phái Di-Man-Tát dựa trên tư tưởng tôn trọng giáo quyền giữ theo lề lối đọc tụng tế lễ xưa. Cho nên chủ thuyết Âm-thanh-thường-trú của họ không ngoài sự giải thích và bảo tồn nghi thức trong tôn-giáo. Về lý tưởng giải thoát, họ cho rằng: muốn được hạnh phúc, cần phải có những hình thức hy sinh. Kết quả của sự hy sinh ấy, tùy theo nhân hạnh nhiều ít, sự an lạc sẽ đến nhiều ít với ta trong tương lai hay hiện tại.

3. Phái Ni-Dạ-Gia (Nyàya: Chánh-lý-luận): Vị khai tổ của bản phái là Túc-Mục tiên-nhơn (Aksapàda). Tư tưởng của phái triết học nầy thuộc về Ða-nguyên-luận, lấy kinh Chánh-lý (Nyàya sutra) làm căn cứ. Về quan niệm nhơn sanh, phái Ni-Dạ-Gia lấy phương châm lìa khổ đến chỗ giải thoát làm mục đích. Phái nầy cho rằng con người giữa cõi trần có đầy dẫy nỗi khổ, mà nguyên nhân thọ sanh là tác nghiệp (Pravrtti). Tác nghiệp lấy phiền não (Dosa) làm cơ sở và căn bản của phiền não là vô-tri (Mithyajnàna). Vậy, muốn dứt khổ phải tiêu diệt vô-tri, khi vô-tri hoàn toàn đoạn trừ, hành giả liền chứng vào cảnh an vui giải thoát (Nihsreyasa). Lý thuyết nầy tương tợ với Thập-nhị-nhân-duyên của Phật-giáo.

Về phương thức nghị luận để bảo vệ cho lập trường của mình, phái Ni-Dạ-Gia dựa theo Ngũ-phần tác pháp (luận thức năm phần): Tôn (Pratijnà), Nhân (Hetu), Dụ (Udahadana), Hợp (Upanaya) và Kết (Nigamana). Phương thức nầy, nếu đem so sánh với môn luận lý tây-phương (tam-đoạn-luận - Syllogisme của Aristote), thì Tôn tương đương với bộ phận Ðoán-án (conclusion), Nhân là Tiểu-tiền-đề (Mineure), Dụ tương đương với bộ phận Đại-tiền-đề (Majeure). Nhưng phương thức luận lý của phái Ni-Dạ-Gia còn thêm hai chi là Hợp và Kết, tự biểu lộ một lập trường luận lý rất vững vàng. Về sau, phương thức luận lý nầy được hoàn bị hóa qua hai bậc thạc học trong Phật-giáo là Thế-Thân và Trần-Na và được chuyển làm môn luận lý học của đạo Phật.

4. Phái Phệ-Thế-Sư-Ca (Vaisesika: Thắng-luận): Vị khai tổ của bản phái là Can-Na-Đà (Kanada, có nơi gọi là Ẩu-Lộ-Ca tiên: Ulùka). Phái nầy lấy kinh Phệ-Thế-Sư-Ca (Vaisesika-sutra) gồm 370 câu làm căn cứ.

Về phương diện vũ trụ quan, phái Thắng-luận phản đối thuyết Hữu-thần, kế thừa tư tưởng của phái triết học tự nhiên, rồi đề xướng lên thuyết Duy-vật-đa-nguyên. Họ dùng sáu cú nghĩa hay sáu yếu tố mà thuyết minh nguyên lý thành lập vũ trụ. Sáu yếu tố ấy là:

Thật: Bản chất của vũ trụ; gồm có chín thứ: địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, ngã, ý.
Đức: Tính chất có đủ trong bản thể; gồm có 24 thứ: sắc, hương, vị, xúc, số, lượng, biệt tánh, hợp tánh, ly tánh, bỉ tánh, thử tánh, giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, trọng tánh, dịch tánh, nhuận, hành, pháp, phi pháp, thanh.
Nghiệp: Tác dụng của bản chất; gồm có năm thứ: thủ, xả, thân, khuất, hành (lấy, bỏ, duỗi, co, làm).

Đại-hữu-tánh: Có nghĩa duy nhất; sự tồn tại của thật, đức, nghiệp đồng nương về một thể đại hữu ấy.
Đồng-dị-tánh: Vạn hữu mỗi thứ có một đặc tính, nên chúng mới thành sai biệt. Như đất với đất là đồng, đất với nước là dị.
Hòa-hợp-tánh: Một đặc tính có thể làm cho thật, đức, nghiệp được hòa hợp nhau không tan rã.

Sáu yếu tố trên đây, ba thứ trước nói về thể, tướng, dụng của vũ trụ; ba thứ sau nói về sự quan hệ của chúng.

Về phương diện nhân sanh quan, phái nầy cho rằng con người được thành lập là do bởi tám yếu tố: yếu tố thứ nhất là Tự-ngã (Atman), thật thể của nó vốn không sanh diệt. Yếu tố thứ hai là Ý (Manas), cơ quan liên lạc giữa Tự-ngã và Ngũ-căn. Năm yếu tố kế là Ngũ-căn. Năm căn nầy hoàn toàn do vật chất tạo thành: Nhãn-căn do hỏa-đại, Nhĩ-căn do không-đại, Tỷ-căn do địa-đại, Thiệt-căn do thủy-đại, Thân-căn do phong-đại. Đối tượng của Ngũ-căn là Ngũ-trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tự-ngã là trung tâm, còn Ý và Ngũ-căn chỉ là cơ quan phụ thuộc để nhận thức và hành động. Yếu tố sau hết là Nghiệp-lực (Adrsta), động cơ của sự sống chết luân-hồi.

Lý tưởng giải thoát của phái Thắng-luận là con người cần phải tu khổ hạnh để diệt trừ nghiệp lực. Khi nghiệp lực đã tan, hành giả liền đạt đến cảnh giới thuần túy của Tự-ngã, chứng quả Niết-bàn an vui tự tại.

5. Phái Tăng-Khê-Da (Sàmkhya: Số-luận): Vị khai tổ của bản phái là Kiếp-Tỷ-La (Kapila), tục gọi Hoàng-Xích tiên-nhơn. Kinh-điển căn cứ của phái nầy là Chế-số-luận (Sàmkhya-sùtra).


 
phật học tinh yếu 4



Về giáo lý, phái Tăng-Khê-Da dung hòa cả hai tư tưởng hữu thần và duy vật mà cấu thành học thuyết của mình. Họ cho rằng “số” là căn bản để đo lường các pháp, từ nơi “số” mà khởi “luận”, “luận” hay sanh “số” nên mới có mệnh danh là “số luận”. Theo nhà Số-luận thì nguồn gốc của vũ trụ không ngoài “Thần-ngã” là nguyên lý tinh thần, và “Tự-tánh” là nguyên lý vật chất. Do hai nguyên lý nầy kết hợp mà sanh 23 đế, và đó là thứ tự tạo ra vũ trụ. Khi hai nguyên nhân thần ngã và tự tánh kết hợp, thần ngã là động lực, tự tánh là chất liệu. Vì thế phái nầy cũng gọi là Minh-nhị-nguyên-luận. Về tuần tự hai nguyên lý sanh 23 đế, xin tạm trình bày theo biểu đồ như sau:
 
Thần-ngã
Tự-tánh
Giác (Đại)
Ngã mạn

 
Năm tri-căn (ưu-tánh): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
Năm tác-căn (ưu-tánh): tay, chân, miệng, sanh-thực-khí, bài-tiết-khí.
Tâm căn
Năm duy (hỷ-tánh): sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Năm đại (ám-tánh): đất, nước, gió, lửa, hư không.

Trong 25 đế trên (kể cả Thần-ngã và Tự-tánh), Tự-tánh là căn nguyên phát triển thành vạn hữu, nên cũng gọi nó là vật chất căn bản. Kiếp sống con người có bao nhiêu nỗi đau khổ, là do cái thể xác tự tánh sanh ra. Chúng-sanh đã nhận lầm những sự kiện tạo ra thân thể là vật của mình. Muốn diệt trừ mọi nỗi đau khổ, hành giả phải dứt điều ngộ nhận ấy, tách đôi sự kết hợp của hai thứ trên, mà trở về bộ mặt thật của Thần-ngã. Đây là phương thức giải thoát của phái Số-luận để thể hiện “Thần-ngã độc tồn”.

6. Phái Du-Già (Yoga: Tương-ưng): Vị khai tổ của bản phái là Bát-Tử-Xà-Lê (Patanjali), giáo điển y cứ là kinh Du-Già (Yoga-sùtra). Phái nầy chú trọng về pháp môn thiền định để đạt đến mục đích Ta với Thần hợp nhất. Phương pháp thật tu chia làm tám giai đoạn: Cấm-chế (Yama), Khuyến-chế (Niyama), Tọa-pháp (Asana), Điều-tức (Prànayama), Chế-cảm (Pràtyàkara), Chấp-trì (Dhàranà), Tĩnh-lự (Dhyàna), Đẳng-trì (Samàdhi). Cấm-chế, cần phải giữ năm điều: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không tham lam, thuộc đức độ tiêu cực. Khuyến-chế, cần phải làm năm việc: Thanh tịnh, mãn định, khổ hạnh, học tập kinh-điển, định thần, thuộc đức độ tích cực. Tọa-pháp để điều hòa thân thể. Điều-tức để chỉnh đốn hô hấp. Chế-cảm để thống ngự ngũ căn. Chấp-trì để tập trung tư tưởng. Tĩnh-lự để lóng gạn thức tâm. Đẳng-trì để tâm trở thành vắng lặng như hư không.

Cứ y theo phương pháp trên đây tu tập, lâu ngày tâm cảnh sẽ sáng suốt, chứng được tam-muội, chỉ còn một “Thần-ngã” tự tại. Đây là lý tưởng giải thoát của phái Du-Già.

 
phật học tinh yếu 5


Tiết III: Lục Sư Ngoại Ðạo
Trên đây là sáu môn phái lớn thuộc hệ thống Phệ-Ðà; còn hệ thống phản Phệ-Ðà tuy cũng có nhiều môn phái, song được nổi danh nhất chỉ có lý thuyết của sáu học giả mà kinh Phật thường gọi là Lục-sư-ngoại-đạo. Nhưng, sáu môn phái nầy chỉ bộc phát một thời gian rồi tiêu diệt. Lý thuyết của Lục-sư-ngoại-đạo đại khái như sau:

1. Phú-Lan-Na-Ca-Diếp (Pùrana Kacyapa: Mãn-Ẩm-Quang): Ông chủ trương thuyết ngẫu nhiên, không tin luật nhân-quả, cho rằng tất cả sự khổ vui họa phước của con người, chỉ là ngẫu nhiên mà có. Lại nữa. Mãn-Ẩm-Quang là một nhà thuyết lý của Hoài-nghi-luận. Theo ông thì thiện ác không có tiêu chuẩn nhất định, bất quá do tập quán xã hội gọi thế mà thôi. Xã hội cho là thiện hoặc ác, vị tất đã là thật thiện, thật ác. Cho nên, làm lành hoặc dữ, đối với ông, không có quả báo chi cả. Phật-giáo gọi phái nầy là Không-kiến-ngoại-đạo.

2. A-Di-Đa-Xúy-Xá-Khâm-Bà-La (Ajtakesa-Kam-bali: Vô-Thắng-Tử): Trong kinh có nơi gọi ông là Lộ-Dà-Gia hoặc Chước-Bà-Ca (Lokayata). Ông chủ trương thuyết Cực-đoan-duy-vật-luận, cho rằng con người do đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà thành, chết rồi là hoại diệt, thân tứ đại lại trả về chất tứ đại. Theo ông, mục đích của nhân sanh là tận hưởng những thú vui vật chất. Vô-Thắng-Tử cực lực bài xích luân lý đạo đức, cho đó là những điều khắt khe, vô lý. Học thuyết của phái nầy tương tợ triết học Dương-Chu ở Trung-Quốc hoặc triết học Hiện-sanh của Tây-phương. Nhà Phật gọi họ là Thuận-thế-ngoại-đạo.

3. Mạt-Già-Lê-Câu-Xá-Lê (Makkhali-Gosala: Ngưu-Xá-Tử): Ông chủ trương thuyết Cực-đoan-định-mạng-luận, cũng gọi là Tự-nhiên-luận hay Túc-mạng-luận. Theo Ngưu-Xá-Tử, vận mạng con người đều do luật tự nhiên chi phối, không phải ai muốn là được. Khi túc mạng đã định con người phải chịu khổ, vui, hoặc giải thoát thì tự nhiên được khổ, vui, giải thoát. Ông đề xướng giáo lý vô vi điềm đạm, gần giống với học thuyết của Lão, Trang. Phật-giáo gọi phái nầy là Tự-nhiên-ngoại-đạo hoặc Tà-mạng-ngoại-đạo.

4. Bà-Phù-Đà-Ca-Chiên-Diên (Pakudha-Katyayana: Hắc-Lãnh): Danh từ nầy lại có một lối gọi khác là Ca-La-Cưu-Đà-Ca-Chiên-Diên. Ông chủ trương thuyết Cực-đoan-thường-kiến-luận, phản đối thuyết Đoạn-kiến của Thuận-thế-ngoại-đạo, Bà-Phù-Đà-Ca-Chiên-Diên lập thuyết Tâm-vật-nhị-nguyên-bất-diệt, cho rằng con người do bảy yếu tố: Địa, thủy, hỏa, phong, khổ, lạc, sanh mạng hợp thành. Bản chất của bảy yếu tố nầy là thường trụ, không vì sự sống chết mà sanh diệt theo. Với ông, thí dụ như người bị chết chém, đó chẳng qua là lưỡi dao ấy tạm thời làm cho địa, thủy, hỏa, phong... (vật) phân tán mà thôi, không quan hệ đến sự tồn vong của khổ, lạc và sanh mạng (tâm). Ông dùng lý luận nầy để cổ lệ con người bất tất phải sợ chết. Phật-giáo gọi phái nầy là Thường-kiến-ngoại-đạo.

5. San-Xà-Dạ-Tỳ-La-Lê-Tử (Sanjaya Belatthiputta: Đẳng-Thắng): Danh từ nầy, theo lối tân xưng, gọi là Tán-Nhạ-Gia-Tỳ-La-Lê-Tử. Ông chủ trương thuyết Vô-cầu, sở hành hằng ngày là tu tập thiền định. Theo ông, đạo quả giải thoát không cần tìm cầu, cứ để trải qua nhiều kiếp luân chuyển, tự nhiên sẽ đến kỳ sự khổ dứt trừ. Thí dụ như cái trục cất nước, khi quay hết dây thì gàu nước tự ra khỏi giếng. Vì thế, ông đưa ra lập thuyết “Mãn tám muôn kiếp, tự nhiên đắc đạo”. Phật-giáo gọi phái nầy là Ngụy-biện-ngoại-đạo.

6. Ni-Kiền-Đà-Nhã-Đề-Tử (Nigantha Nataputta: Ly-Hệ-Thân-Tử): Ông là vị tổ hữu danh đã khai sanh ra Kỳ-Na-giáo, cũng gọi Thiền-Na-giáo (Jaina). Ly-Hệ-Thân-Tử người thuộc dòng Sát-Ðế-Lỵ, ở xứ Cung-Đồ-Bổ-La (Kyndapura), phụ cận kinh thành Tỳ-Xá-Ly (Vaisali). Ông xuất-gia hồi 31 tuổi, chuyên tu khổ hạnh trải qua 12 năm. Sau khi ngộ đạo, ông đi du hóa khắp nơi, thâu phục đồ đệ rất nhiều, gây thế lực mạnh mẽ ở vùng thượng lưu sông Hằng, nhất là hai xứ Tỳ-Xá-Ly và Ma-Kiệt-Đà (Magadha). Trong lịch sử tư tưởng Ấn-Độ, ông có vai trò trọng yếu không kém Ðức Thích-Ca-Mâu-Ni. Đức Phật có mười hiệu, ông cũng có nhiều danh hiệu như: Thiền-Na (Jaina: Thắng-Giả), Đa-Tha-Dà-Dà (Tathagata: Như-Lai), Phật-Đà (Buddha: Giác-Giả), Ma-Ha-Tỳ-La (Mahàvira: Đại-Hùng). Kinh Phật nói có bảy Ðức Thế-Tôn, phái của ông cũng có thuyết 23 bậc Thắng-Giả. Sau 29 năm du hóa, ông viên tịch ở xứ Ba-Bà (Pavà) thọ được 72 tuổi, nhằm lúc Đức Phật đang còn giáo hóa ở nhơn gian.

Tư tưởng triết học căn bản của Ly-Hệ-Thân-Tử xây dựng trên Thật-thể (Dravya). Thật-thể nầy chia ra hai trạng thái là Sinh-mạng-yếu-tố và Phi-sanh-mạng-yếu-tố (Jìva, Ajìva). Sinh-mạng-yếu-tố thì gồm đủ hai phần: Lý trí và tình cảm. Phi-sanh-mạng-yếu-tố được chia làm năm thứ: Không (Àkàsa), Vật-chất (Pudgala), Pháp (Dharma), Phi-pháp (Adharma), Thời-gian (Kata). Không là nguyên lý bao trùm khắp mọi nơi. Vật-chất là nguyên lý tạo thành nhục thể. Pháp là nguyên lý vận động. Phi-pháp là nguyên lý đình chỉ. Thời-gian là nguyên lý biến hóa. Bởi hai yếu tố Sanh-mạng và Phi-sanh-mạng liên kết nhau, nên con người sanh ra phiền não, bị quanh quẩn trong nẻo luân-hồi. Muốn được giải thoát, hành giả phải xa lìa sự chấp trước trên hai yếu tố mà trở về Thật-thể.

Về phương diện thực tiễn, Ly-Hệ-Thân-Tử chủ trương khổ hạnh tột độ để xa lìa tham nhiễm. Ông đặt ra năm giới là: Không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, giữ tịnh hạnh và không tham cầu. Đồ chúng xuất-gia của ông phần nhiều đều lõa thể, lấy tro bôi trát cùng mình, sống một cách cơ cực, khi khất thực thì dùng hai tay tiếp lấy rồi đưa vào miệng ăn liền. Vì thế, nhà Phật gọi phái nầy là Vô-tâm-ngoại-đạo.

 
phật học tinh yếu 6


Tiết IV: Tổng Quát Các Nguồn Tư Tưởng Ấn Độ Đương Thời
Về thời gian sáng lập, sáu đại-học-phái và lục-sư-ngoại-đạo nói trên, xuất hiện trước Phật-giáo không bao lâu. Lúc Ðức Thích-Ca mới xuất-gia, Ngài có đến phỏng đạo những vị thủ lãnh của mấy giáo đoàn ấy như các ông: Nhã-Đề-Tử, Bạt-Già-Bà, A-La-Ra, Uất-Đà-La...

Nói chung, tư tưởng giới Ấn-Độ thời bấy giờ gần giống như tư tưởng giới đời Chiến-quốc bên Trung-Hoa. Xét về mặt xã hội thì trước Phật giáng sinh khoảng 100 năm, nhằm thời đại tiền kỷ nguyên độ bảy thế kỷ, đạo Bà-La-Môn thịnh hành đến cực điểm. Nhưng cũng do sự độc quyền của phái Tăng-lữ, mà đạo đức tôn-giáo thời đó chỉ có nghi thức phô trương bề ngoài. Hơn nữa, lại vì chế độ giai cấp không công bình, nhân dân không được tự do, rồi sanh ra tư tưởng yếm thế. Bởi duyên cớ ấy, một phương diện bị mê tín hoành hành, người ta hy sinh tu theo khổ hạnh. Họ quan niệm rằng có gần sự khổ mới quen với cái khổ, và sẽ xem thường, không còn thấy khổ. Có kẻ tin tưởng tu khổ hạnh sẽ được sanh lên cõi trời hưởng các điều vui. Lại một phương diện khác, người ta nảy ra tư tưởng hoài nghi, phủ nhận tất cả tôn-giáo, nhân-quả và đạo-đức. Nương theo quan niệm ấy, họ cổ xúy tư tưởng phản kháng. Do đó, ngoài những giáo phái thuận theo hệ thống Phệ-Ðà truyền lại, các chủ nghĩa khác tiếp tục nổi lên. Như ông Phú-Lan-Na-Ca-Diếp đại biểu cho chủ nghĩa Hoài-nghi, ông Vô-Thắng-Tử đại biểu cho chủ nghĩa Khoái-lạc, ông Đẳng-Thắng đại biểu cho thuyết Ngụy-biện, ông Nhã-Đề-Tử đại biểu cho thuyết Khổ-hạnh.

Theo kinh Phạm-Võng và Sa-Môn-Quả thì lúc bấy giờ có đến 62 phái ngoại-đạo khác nhau. Nhưng nhìn tổng quát, ta có thể chia ra tám hệ thống lớn:

1. Thường-kiến-luận (Sassatavada): Chủ trương thế-giới và tự-ngã thường còn.

2. Bán-thường-bán-vô-thường-luận (Ekaccasassa-tika): Chủ trương tất cả hiện tượng đều có một bộ phận thường còn và một bộ phận biến diệt.

3. Hữu-biên-vô-biên-luận (Anatanantika): Chuyên thảo luận về thế-giới hữu hạn hay vô hạn.

4. Ngụy-biện-luận (Amaravikkhepihà): Lý luận không dứt khoát đối với tất cả vấn đề không có một giải pháp quyết định.

5. Vô-nhân-luận (Adhiccasamuppada): Chủ trương mọi hiện tượng đều ngẫu nhiên phát sanh, không quan hệ đến nhân-quả.

6. Tử-hậu-hữu-tưởng-vô-tưởng-luận (Udhamagha-tamika): Chuyên thảo luận về vấn đề: sau khi chết ý thức còn tồn tại không và sanh ra những trạng thái như thế nào?

7. Đoạn-kiến-luận (Ucchedavada): Chủ trương chết là đoạn diệt.

8. Hiện-pháp-niết-bàn-luận (Ditthadhammanib-banam): Chủ trương hiện tại là cảnh giới lý tưởng tối cao.

Trong tám hệ thống trên, bốn hạng trước lập luận trong phạm vi đời hiện tại, nên có tên là Bản-kiếp-bản-kiến. Còn bốn hạng sau lập luận trong phạm vi đời vị lai, nên có tên Mạt-kiếp-vị-kiến. Đây là những điểm mà căn cứ vào đó, ta có thể thấy tất cả sự hỗn tạp của tư tưởng giới đương thời.

Như trước đã nói, điểm xuất phát của các tôn-giáo đại để: do tâm cầu thoát khổ, do tin tưởng sùng bái, do trí huệ tìm cầu sự thật mà sanh ra. Cho nên sự xuất hiện của 62 môn phái cũng không ngoài ba yếu điểm nầy. Nhưng dù sao, những học thuyết rối ren hồi đó, cũng là cơ vận để mở mang một thứ tôn-giáo canh tân. Thời đại ấy, phải có một bậc vĩ nhân xuất hiện, để đả phá thành kiến giai cấp bất công và phân tích, dung hội tất cả tư tưởng phức tạp, vạch ra một đường lối chánh chân, giải thoát. Và, đó là lý do Phật-giáo ra đời…


MỤC LỤC:
ÐÔI LỜI PHI LỘ
THIÊN THỨ NHẤT
CHƯƠNG MỘT - XÃ HỘI ẤN ÐỘ TRƯỚC KHI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI
CHƯƠNG HAI - NỀN HỌC THUYẾT ẤN ÐỘ TRƯỚC PHẬT GIÁO
CHƯƠNG BA - DÒNG DÕI ĐỨC PHẬT
CHƯƠNG BỐN - ÐỨC THÍCH TÔN TRƯỚC KHI THÀNH ĐẠO
CHƯƠNG NĂM - ÐỨC THÍCH TÔN SAU KHI THÀNH ĐẠO
CHƯƠNG SÁU - BỐN KỲ KẾT TẬP
CHƯƠNG BẢY - KINH ĐIỂN ĐẠO PHẬT
CHƯƠNG TÁM - SỰ PHÂN PHÁI CỦA ĐẠO PHẬT
CHƯƠNG CHÍN - GIÁO NGHĨA CÁC BỘ PHÁI
CHƯƠNG MƯỜI - TIỂU THỪA VÀ ÐẠI THỪA
CHƯƠNG MƯỜI MỘT - SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THỪA
CHƯƠNG MƯỜI HAI - SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ÐẠI THỪA
THIÊN THỨ HAI
CHƯƠNG MỘT - CHÚNG SANH TRONG BA CÕI
CHƯƠNG HAI - THÂN TRUNG HỮU VÀ SỰ THỌ SANH
CHƯƠNG BA - THẾ GIỚI QUAN CỦA ĐẠO PHẬT
CHƯƠNG BỐN - CÕI ĐẠI THIÊN VÀ THỜI KIẾP
CHƯƠNG NĂM - TỪ ĐỨC THÍCH CA ĐẾN PHẬT DI LẶC
CHƯƠNG SÁU - CÁC CHỦNG LOẠI THẾ GIỚI
CHƯƠNG BẢY - BIỂN THẾ GIỚI HOA TẠNG
CHƯƠNG TÁM - PHÁP GIỚI TỔNG LUẬN
THIÊN THỨ BA
CHƯƠNG MỘT - XUẤT PHÁT ĐIỂM CỦA ĐẠO PHẬT
CHƯƠNG HAI - PHẬT GIÁO VỚI GIA ĐÌNH
CHƯƠNG BA - PHẬT GIÁO VỚI XÃ HỘI
CHƯƠNG BỐN - KHÁI YẾU VỀ TAM QUY
CHƯƠNG NĂM - KHÁI YẾU VỀ NGŨ GIỚI
CHƯƠNG SÁU - KHÁI YẾU VỀ THẬP THIỆN
CHƯƠNG BẢY - ĂN CHAY
CHƯƠNG TÁM - LUÂN HỒI VÀ NHÂN QUẢ



 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây