LỤC TỔ ĐÀN KINH - HT TUYÊN HÓA LƯỢC GIẢNG LỤC TỔ ĐÀN KINH - HT TUYÊN HÓA LƯỢC GIẢNG Lược Giảng: Tuyên Hóa Lược Giảng
NXB: Tôn Giáo
Số Trang: 452 Trang
Hình Thức: Bìa Mềm
Khổ: 14,5x20,5cm
Năm XB: 2010
Độ Dày: 2cm
LTDK HT TUYÊN HÓA 75.000 đ Số lượng: 1000020 Quyển
  • LỤC TỔ ĐÀN KINH - HT TUYÊN HÓA LƯỢC GIẢNG

  •  564 Lượt xem
  • Mã sản phẩm: LTDK
  • Giá bán: 75.000 đ

  • Lược Giảng: Tuyên Hóa Lược Giảng
    NXB: Tôn Giáo
    Số Trang: 452 Trang
    Hình Thức: Bìa Mềm
    Khổ: 14,5x20,5cm
    Năm XB: 2010
    Độ Dày: 2cm


Số lượng
 
lục tổ đàn kinh


Gọi đủ: Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh.
Còn gọi: Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Đàn Kinh.
Kinh, 1 quyển, do Lục tổ Huệ Năng thuyết giảng vào đời Đường, đệ tử là Pháp Hải gom chép, ngài Tông Bảo hiệu đính và ấn hành vào đời Nguyên, Trung Quốc, được xếp vào Đại Chánh Tạng tập 48. Bản kinh này ghi chép lại nội dung thuyết pháp của ngài Huệ Năng tại chùa Đại Phạm ở Thiều Châu, gồm có 10 phẩm:

1. Hành Do: Nói về tiểu sử, nguyên do đắc pháp của Lục Tổ.
2. Bát Nhã: Ngộ được tự tánh tức bát nhã liền có thể thấy tánh thành Phật.
3. Nghi vấn: Để đáp lại lời nghi ngờ chất vấn của quan Thứ Sử Vi Cừ, Tổ căn cứ vào lời vấn đáp của Tổ Đạt Ma và vua Lương Vũ Đế để giải thích về nghĩa Vô công đức , ngoài ra còn nói rõ về ý chí niệm Phật vãng sanh, Duy Tâm Tịnh Độ và dùng bài tụng Vô Tướng để chỉ dạy cách tu hành của người tại gia.
4. Định huệ: Tức pháp môn lấy định huệ làm gốc, trụ nơi Nhất hạnh Tam muội của định huệ bất nhị.
5. Tọa thiền: Đối với tất cả cảnh giới thiện ác bên ngoài, tâm niệm không khởi gọi là “Tọa”, trong rõ được tự tánh không động gọi là “Thiền”.
6. Sám hối: Năm loại hương: Giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến tự huân bên trong, chẳng phải tìm cầu ở bên ngoài gọi là “Vô tướng sám hối”. Ngoài ra dạy rõ về ý chỉ về 4 thệ nguyện rộng lớn, vô lượng tam quy giới và cho rằng thấy được tự tánh là “chân sám hối”.
7. Cơ Duyên: Lục Tổ khai thị yếu chỉ Thiền tông cho Tỳ-kheo-ni Vô Tận Tạng, Tào Thúc Lương, Pháp Hải ở Thiều Châu, Pháp Đạt ở Hồng Châu, Trí Thông ở Thọ Châu, Trí Thường ở Tín Châu, Trí Đạo ở Quảng Châu, Hành Tư ở Thanh Nguyên, Hoài Nhượng ở Nam Nhạc, Huyền Giác ở Vĩnh Gia, Trí Hoàng ở Hà Bắc.
8. Đốn tiệm: Pháp chỉ một tông, vốn không có đốn, tiệm, nhưng vì người có lợi căn và độn căn khác nhau, cho nên lập chỉ thú đốn tiệm có khác. Phẩm này Tổ còn căn cứ vào kiến giải về giới định huệ của mình để phân biệt với lời dạy của ngày Thần Tú cho ngài Chí Thành được rõ. Ngoài ra, còn đề cập tới nhân duyên tiếp độ các ngài Chí Triệt ở Giang Tây, Thần Hội ở Hà Trạch.
9. Tuyên Chiếu: Nói về việc Lục Tổ từ chối chiếu chỉ nghinh thỉnh vào cung của vua Đường Trung Tông vào năm 705 và việc chỉ dạy thiền pháp cho Sứ giả của vua là ông Tiết Giản.
10.  Phó Chúc: Đầu tiên nêu pháp môn 3 khoa, 36 số, kế đến chỉ dạy bài kệ Chân Giả động tịnh, cuối cùng nói về thứ lớp truyền thừa của chư Phật và 32 vị Tổ Ấn Hoa, đồng thời dặn dò tiếp nối lưu truyền đừng để cho gián đoạn.
 
Lục Tổ Đàn Kinh này ban đầu do Thiền sư Pháp Hải vâng lệnh quan thứ sử Vi Cừ đất Thiều Châu gom chép thành, nhưng người sau giảng lược quá nhiều, nên không thấy được toàn bộ ý chỉ của Tổ. Năm 1290, đời Nguyên, ngài Đức Dị sưu tầm ở các nơi, tìm được bản đầy đủ và cho khắc in tại am Hưu Hưu ở Ngô Trung. Năm sau, ngài Tông Bảo so sánh 3 bản, sửa những chỗ sai lầm, bổ sung những chỗ sơ lược và thêm vào phẩm Cơ Duyên Đệ Tử Thỉnh Ích, rồi cho ấn hành. Dầu quyển có lời tựa của ngài Đức Dị, bài tán của ngài Khế Trung đời Tống; cuối quyển phụ thêm phần Lục Đại Sư Duyên Khởi Ngoại Kỳ của ngài Pháp Hải v.v… sưu tập, sự tích qua các triều đại, bài bi Tứ Thụy Đại Giám Thiền sư của ông Lưu Vũ Tích, bài minh Phật Y và lời Bạt của ngài Tông Bảo.


 
lục tổ đàn kinh 1


PHẦN LƯỢC TỰ
Tên của bộ Kinh này là Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn, tên riêng là "Lục Tổ Đàn Kinh". "Kinh" là tên chung của các bộ Kinh. Kinh Phật lập đề thường dùng bảy loại để phân biệt: tức Đơn Nhân, Đơn Pháp, Đơn Dụ, Nhân Pháp, Nhân Dụ, Pháp Dụ, Nhân Pháp Dụ. Như Kinh Phật Thuyết A Di Đà là Đơn Nhân lập đề, vì Đức Phật và Phật A Di Đà đều là người, là người tu hành thành Phật. Người chính là Phật, Phật chính là người, vì thế người Trung Quốc viết chữ Phật có bộ nhân bên cạnh. Đơn Pháp lập đề như Kinh Bát Nhã, Kinh Niết Bàn. Niết Bàn là pháp, Niết Bàn nghĩa là bất sanh bất diệt. Đơn Dụ lập đề như Kinh Phật Thuyết Phạm Võng, nếu nghiêm trì giới luật thì có thể sanh ra quang minh, như châu báu của cõi Đại Phạm Thiên. Nếu phạm giới phá giới, biết pháp phạm pháp thì có chỗ hữu lậu, hữu lậu tất đi đến tam ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nơi đó tuyệt không có một chút nhân tình. Pháp Dụ lập đề như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ. Nhân Dụ lập đề giống như Kinh Như Lai Sư Tử Hống, Như Lai là người, Sư Tử là dụ, Phật thuyết pháp như sư tử hống. Nhân Pháp lập đề như Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. Đầy đủ Nhân Pháp Dụ lập đề như Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Đại Phương Quảng là pháp, Phật là người, Hoa Nghiêm là dụ.

Nhưng quyển Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Đàn là Kinh Trung Quốc, không phải Kinh Ấn Độ, cho nên ngoài bảy loại lập đề ra, còn có thêm một loại là Xứ lập đề. Lục Tổ là người, Pháp Bảo là pháp, Đàn là xứ sở, vì thế quyển Kinh này là Nhân Pháp Xứ lập đề, không thể giảng theo bảy loại lập đề kể trên.

Ngôi vị Lục Tổ không phải dễ thừa kế, đảm trách. Vì sao vậy? Vì có rất nhiều người muốn giết Ngài. Ngay cả đệ tử của Ngài là Chí Triệt cũng tìm cách giết hại Ngài. Vì thế Đại sư sau khi đắc pháp đã tỵ nạn mười sáu năm trong nhóm thợ săn. Thậm chí sau khi kiến lập Pháp đàn tại Nam Hoa Tự, vẫn còn có ngoại đạo công khai muốn giết Ngài. Cho nên Đại sư chạy lên núi ẩn trong núi đá tọa thiền, hòn đá mà Đại sư tỵ nạn, đến nay vẫn còn thấy ở Nam Hoa Tự.

Lục Tổ Đại sư từ đâu mà có danh hàm Lục Tổ? Điều này bắt đầu từ Ngài Bồ Đề Đạt Ma. Bồ Đề có nghĩa là Giác, Đạt Ma có nghĩa là Pháp. Ngài Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ hai mươi tám tại Ấn Độ, nhưng tại sao Ngài không ở Ấn Độ làm Tổ mà đi đến Trung Quốc làm gì? Vì xưa kia Phật đã thọ ký: Đến đời Tổ thứ hai mươi tám, Đại thừa Phật pháp sẽ truyền đến Trung Quốc. Do nhân duyên như thế, Ngài Bồ Đề Đạt Ma ngồi thuyền đến Trung Quốc truyền đạo. Nhưng lúc đó Phật Pháp tại Trung Quốc, dường như có dường như không, bởi vì chỉ làm công tác bên ngoài như tụng kinh, nghiên cứu kinh điển, giảng kinh v.v.., ngay cả việc bái sám cũng không có. Đương thời các học giả đều cho Phật giáo như là một loại học vấn để nghiên cứu thảo luận.

Các đạo lý mà Phật giáo nói đều phải y theo mà tu hành. Nhưng thời đại Nam Bắc triều của Trung Quốc lúc đó không có người nào chân chánh tu hành tọa thiền, vì sợ khổ cực. Hiện nay ở Mỹ đây cũng giống như vậy. Ngồi một chút chân đau bèn duỗi chân, nghiêng nghiêng lắc lắc, xoa bóp một hồi. Người dù sao cũng là người! Cũng đều sợ khổ, sợ cực!

Trước khi Tổ sư Đạt Ma đến Trung Quốc, Ngài có phái hai người đệ tử là Phật Đà và Da Xá đến Trung Quốc truyền pháp môn đốn ngộ, tức là Thiền tông. Ai ngờ hai Ngài đến Trung Quốc lại gặp phải cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả các Tăng sĩ thời đó đều không xem trọng hai Ngài. Sau đó hai Ngài đến Lư Sơn gặp Đại sư Huệ Viễn; Ngài Huệ Viễn chuyên giảng về pháp môn niệm Phật. Đại sư Huệ Viễn hỏi:

–Hai vị là các Tăng sĩ Ấn Độ, hai vị truyền pháp môn gì mà sao không có ai theo học?

Ngài Phật Đà và Da Xá chỉ biết nói rất ít tiếng Trung Quốc, bèn đưa tay ra nói:

–Hãy nhìn xem! Bàn tay tôi nắm vào và giở ra có nhanh không?

–Rất nhanh.

–Bồ đề và phiền não cũng nhanh giống như vậy.

Đại sư Huệ Viễn lập tức khai ngộ, biết ra Bồ đề và phiền não vốn không có gì sai khác. Bồ đề tức phiền não, phiền não tức là Bồ đề! Ngài Huệ Viễn sau khi khai ngộ, rất cung kính cung dưỡng Ngài Phật Đà và Da Xá. Nhưng không lâu hai bậc cao Tăng Ấn Độ này đều vãng sanh trong cùng một ngày. Phần mộ của hai Ngài đến nay vẫn còn ở Lư Sơn.

Tổ sư Đạt Ma nhìn thấy căn tánh Đại thừa ở Trung Quốc đã chín muồi, bèn không ngại gian khổ, đường sá xa xôi, đem Phật pháp Đại thừa đến Trung Quốc. Nhưng lúc đó vì ngôn ngữ không thông, người Trung Quốc gọi Ngài là "Ma-la-sát." Trẻ con nhìn thấy gương mặt Ngài với bộ râu dài đều hoảng sợ chạy mất. Người ta cho rằng Ngài đến để bắt trẻ con vì thế không cho trẻ con đến gần Ngài.

Sau đó Tổ sư Đạt Ma đến Nam Kinh nghe Pháp sư Thần Quang giảng Kinh, nhìn thấy cảnh giới thù thắng: "Chư thiên rải hoa cúng dường, dưới đất sen vàng hiện ra." Cảnh giới này chỉ có người đã đắc Ngũ nhãn Lục thông mới thấy được. Sau khi giảng Kinh xong, là đến phần thỉnh pháp, hỏi pháp, Tổ sư Đạt Ma hỏi:

–Pháp sư! Ông ở đây làm gì?

Thần Quang trả lời:

–Tôi ở đây giảng Kinh.

–Ông giảng Kinh làm gì?

–Tôi giảng Kinh, đưa người liễu ngộ sinh tử.

–Làm sao có thể liễu ngộ được sanh tử? Kinh mà ông giảng đều là giấy trắng mực đen, ông dùng cái gì mà có thể giúp người liễu đoạn sanh tử ?

Thần Quang bị hỏi không có cách nào trả lời, vì thế xấu hổ mà tức giận. Tuy Pháp sư Thần Quang giảng kinh được chư thiên rải hoa cúng dường nhưng vẫn còn tính nóng giận như vậy. Vì thế tôi nói Phật Pháp đương thời dường như có dường như không. Pháp sư Thần Quang tức giận liền cầm lấy xâu chuỗi niệm Phật làm bằng sắt nói:

–Ông dám hủy báng pháp à!

Nói xong liền dùng xâu chuỗi đánh vào mặt Đạt Ma. Tổ sư Đạt Ma tuy biết võ thuật, nhưng không ngờ Thần Quang lợi hại như thế, nói không lại liền động võ, kết quả bị đánh gãy hai cái răng. Nghe nói, răng của bậc Thánh nếu bị đánh gãy, nhổ xuống chỗ nào thì chỗ đó bị hạn hán ba năm. Đạt Ma nghĩ thầm: "Ba năm không mưa, chết đói biết bao nhiêu người. Ta đến Trung Quốc là muốn độ chúng sanh, không phải là để hại chúng sanh," vì thế Ngài nuốt hai cái răng vào bụng, không nói một lời liền bỏ đi.

Vì Ngài là người xuất gia, lại là bậc Tổ Sư, cho nên đã nhẫn nhục được những việc như vậy. Trên đường đi, Ngài gặp con chim Anh Vũ bị nhốt trong lồng. Chim Anh Vũ còn thông minh hơn Thần Quang vì biết Bồ Đề Đạt Ma là một vị Tổ Sư, nên thưa với Ngài rằng:

–Tây lại ý, Tây lại ý, thỉnh Ngài dạy cho chúng con cách thoát ra khỏi lồng.

Đạt Ma đến Trung Quốc chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Đạt Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: "Muốn thoát khỏi lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là diệu kế, giúp con thoát lồng."

Anh Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: "Nay con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy." Anh Vũ nhìn thấy người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần, nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để nơi lòng bàn tay: "Ồ! thân chim vẫn còn nóng." Vì chim giả chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.

Chúng ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ gìn quy củ cho là tự do. Điều này thật là mê muội vì đã hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như thế mới gọi là tự do chân chánh.

Giảng về "Lục Tổ Đàn Kinh," tôi vốn giảng không hay, nhưng mà dám giảng. Còn có người giảng rất hay nhưng lại không dám giảng. Tôi giảng không hay nhưng cứ thử giảng, sau này những người giảng hay nên nương theo đó mà giảng tiếp. Sau này quý vị rộng mở trí tuệ thì có thể giảng hay hơn tôi nữa. Giảng hay là học từ cái giảng không hay mà ra.

Pháp sư Thần Quang đánh gãy hai cái răng của Hòa Thượng mặt đen, nhưng thấy Hòa Thượng Ấn Độ không có phản ứng gì, bèn cho rằng mình thắng. Nhưng không lâu sau đó quỷ vô thường đến gặp Pháp sư nói:

–Pháp sư, hôm nay mạng sống của ngài đã hết. Vua Diêm La sai tôi đến mời ngài đi.

–Tôi mà cũng phải chết à? Tôi giảng Kinh được trời rãi hoa cúng dường, đất hiện ra hoa sen vàng mà còn không thể dứt vòng sanh tử thì thế gian này còn có ai có thể dứt vòng sanh tử?

–Có chứ! Chính là Ngài Hòa Thượng mặt đen mà bị ông đánh gãy hai cái răng đó. Diêm Vương không những không cai quản được số mạng của Ngài mà mỗi ngày còn phải hướng về Ngài khấu đầu đảnh lễ.

–Quỷ đại ca! Bạn có thể chờ tôi một chút được không? Xin nói với Diêm Vương dùm tôi một tiếng, xin cho tôi một thời gian ngắn để tôi đi học pháp môn liễu đoạn sanh tử của Ngài Hòa Thượng mặt đen.

–Nếu ông thật có lòng thành như vậy thì việc này không phải không có thể linh hoạt giải quyết.


 
lục tổ đàn kinh 2


Thần Quang nghe nói rất vui mừng, không kịp mang dép, chân đất đuổi theo Tổ sư Đạt Ma. Trên đường gặp chim Anh Vũ đã được Ngài Đạt Ma giúp cho thoát khỏi lồng. Anh Vũ nói cho Thần Quang biết Ngài Đạt Ma đã giúp nó như thế nào. Thần Quang đi theo sau lưng Tổ Sư, nhưng Tổ không để ý đến. Thần Quang đi theo cho đến núi Hùng Nhĩ ở Lạc Dương (Chùa Thiếu Lâm, Tung Sơn, Hà Nam). Tổ sư Đạt Ma ở đó diện bích tọa thiền, Ngài ngồi suốt chín năm, Thần Quang cũng quỳ đủ chín năm. Lúc trước, khi tôi giảng đến công án này, có một em bé mười một tuổi nghe rồi rất cao hứng, liền hỏi: "Thần Quang quỳ suốt chín năm, vậy có ăn cơm không?" Tôi trả lời: "Chín năm không ăn cơm thì làm sao có thể sống được? Chính là lúc Tổ sư Đạt Ma ăn cơm thì Thần Quang cũng ăn cơm, Đạt Ma ngồi thiền thì Thần Quang quỳ gối, nhưng mà trong sách thì không có ghi việc này."

Trong thời gian chín năm diện bích của Đạt Ma có rất nhiều người đến quy y lạy Ngài làm Thầy.

Thần Quang cũng quỳ suốt chín năm. Một ngày kia tuyết lớn, tuyết phủ đến hông. Đạt Ma nói:

–Tuyết lớn như vậy ông quỳ đó làm gì?

–Bạch Tổ Sư, con muốn liễu đoạn sanh tử. Lúc trước con giảng Kinh không thể liễu đoạn sanh tử, nay kính xin Tổ Sư truyền dạy cho con pháp môn liễu đoạn sanh tử.

–Ngươi nhìn, trời hiện rơi cái gì?

–Bạch Tổ Sư, trời đang rơi tuyết.

–Tuyết có màu gì?

–Bạch Tổ Sư, tuyết màu trắng.

–Ngươi đợi đến lúc nào mà trời rơi tuyết màu đỏ thì lúc đó ta sẽ truyền dạy pháp môn liễu đoạn sanh tử cho ngươi. Nếu trời không rơi tuyết đỏ thì ngươi đừng nên hy vọng ta truyền dạy cho. Ngươi là một kẻ xuất gia hung ác như vậy, dùng xâu chuỗi niệm Phật bằng sắt đánh gãy hai cái răng của ta, ta không báo thù cũng là từ bi lắm rồi, làm sao lại có thể truyền pháp cho ngươi được?

Đạt Ma đưa ra vấn đề khó khăn như vậy để khảo nghiệm Thần Quang, nhưng Thần Quang đã giải quyết được. Thần Quang nhìn thấy trên tường có một thanh giới đao của người tu đạo, dùng dự bị lúc phạm giới thì đem đao chặt đứt đầu mình chớ không để phạm đến giới thể. Thần Quang liền lấy thanh đao đó xuống chặt đứt cánh tay mình, máu rơi đầy mặt đất đã làm tuyết trắng biến thành tuyết đỏ. Thần Quang liền bụm lấy một nắm tuyết đỏ đem dâng đến trước mặt Ngài Đạt Ma và nói:

–Bạch Tổ Sư, Ngài xem, đây chính thật là tuyết đỏ.

Điều này vốn đã ở trong dự liệu, chỉ vì muốn thử thách chân tâm của Thần Quang, mà Đạt Ma mới đưa ra vấn đề thử thách này. Vì thế Ngài rất hoan hỷ nói:

–Ta đến Trung Quốc thật không có uổng công, gặp phải ngươi là người chân thành cầu pháp tu hành như vậy, ngay cánh tay của chính mình cũng bỏ đi để cầu pháp, quả là có tâm thành.

Sau đó Ngài Đạt Ma mới đem pháp môn dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật truyền cho Thần Quang. Sau khi Ngài Đạt Ma giảng xong pháp môn, Thần Quang liền sanh tâm phân biệt nói:

–Con chặt đứt cánh tay, rất đau nhức, tâm cũng rất nhức nhối, xin Tổ Sư an tâm cho con.

–Đem tâm của ông ra đây, ta mới có thể giúp ông an tâm!

Thần Quang bèn đi tìm tâm của mình, Đông Tây Nam Bắc, trên trời dưới đất, tìm hoài mà không thấy tâm của mình. Thần Quang nói:

–Con tìm không ra.

–Ta đã an tâm cho ông rồi.

Thần Quang lập tức hoát nhiên đại ngộ. Vì thế Thần Quang nói:

Vạn pháp quy nhứt, nhứt quy hà xứ ?

Thần Quang bất minh cản Đạt Ma.

Hùng Nhĩ sơn tiền quỵ cửu tái,

Chỉ cầu nhứt điểm đóa Diêm La.

Vạn pháp quy nhứt, vậy nhứt quy về đâu? Thần Quang không rõ nghĩa lý của chữ "hợp," vì thế đuổi theo Đạt Ma, tại núi Hùng Nhĩ quỳ suốt chín năm, chỉ cầu Tổ Sư chỉ điểm cách liễu đoạn sanh tử, thoát khỏi Diêm Vương.

Thần Quang sau khi được Tổ sư Đạt Ma truyền pháp, liền đổi tên là Huệ Khả, tức là trí huệ đầy đủ, thiện căn viên mãn. Đại sư Huệ Khả hỏi Tổ sư Đạt Ma:

–Bạch Tổ Sư, ở Ấn Độ Ngài có đồ đệ đắc pháp chưa? Ở Ấn Độ, khi truyền pháp có đem ca sa, y, bát truyền cho đồ đệ để làm bằng cớ không?

–Không có, ở Ấn Độ ta truyền pháp không có đem ca sa y bát làm vật y cứ, vì tâm người Ấn Độ rất thẳng thắn, tu hành đắc đạo liền nói đắc đạo, chỉ cần có người chứng minh đắc đạo là đủ. Nếu chưa được ấn chứng, họ sẽ không nói là: tôi đã đắc đạo chứng quả, tôi đã chứng A La Hán, hoặc tôi đã là Bồ Tát. Người Trung Quốc không giống như vậy. Ở Trung Quốc, người có căn tánh Đại thừa cũng rất nhiều, nhưng người nói vọng ngữ cũng không ít, tu hành chưa thành tựu đạo nghiệp mà khoe khoang đã thành; chưa chứng quả cũng tự nói đã chứng quả, vì thế cần phải dùng ca sa y bát để chứng minh. Cho nên nay ta truyền ca sa y bát cho ông, ông nên cẩn thận giữ gìn.

Tổ sư Đạt Ma đến Trung Quốc, từng bị đầu độc sáu lần, vì đương thời Bắc Ngụy có hai vị Pháp sư muốn hại Ngài, một vị là Bồ Đề Lưu Chi, một vị là Luật sư Quang Thống. Họ rất đố kỵ Ngài, đã làm ra vài món đồ chay, trong đó có chất độc cực mạnh đem đến cúng dường Ngài. Ngài biết trong thức ăn có độc nhưng vẫn ăn một cách bình thường. Ăn xong kêu người đem một cái mâm lại, Ngài mửa vài mâm một đống rắn. Thì ra chất độc đã biến thành rắn. Bồ Đề Lưu Chi thấy độc không thể giết được Ngài, không hiểu vì duyên cớ gì. Vì thế lần thứ hai bỏ liều lượng thuốc độc gấp đôi. Đạt Ma cũng ung dung thọ dụng, ăn xong liền ngồi tại một tảng đá lớn, phun thuốc độc ra, sức mạnh của thuốc độc đã làm bể tan tảng đá. Sau đó liên tiếp thêm bốn lần hạ độc nữa nhưng đều không thể hại được Ngài.

Một ngày nọ, Tổ sư Đạt Ma nói với Đại sư Huệ Khả rằng:

–Ta đến Trung Quốc, để độ chúng sanh có căn tánh Đại thừa. Nay pháp đã truyền, ta đã có người kế thừa, giờ viên tịch cũng đã đến.

Sau khi Tổ sư Đạt Ma viên tịch, chúng đệ tử dùng quan tài bọc xác Ngài đem chôn. Nhưng lúc ấy, Bắc Ngụy có một sứ quan tên là Tống Vân, tại vùng Thông Lãnh, trên đường đi gặp Tổ sư Đạt Ma. Tổ Sư, tay cầm dép, nói với Tống Vân rằng:

–Quốc Vương nước ông hôm nay băng hà, ông nên mau mau trở về.

Tống Vân hỏi:

–Đại sư, Ngài đi đâu?

–Ta trở về Ấn Độ.

–Đại sư, Ngài đã truyền pháp cho ai?

–Bốn mươi năm sau tại Trung Quốc.

Sau đó Tống Vân trở về đến Bắc Ngụy đem việc này kể cho mọi người nghe, nhưng không ai tin. Vì thế mọi người mới quật mồ của Tổ sư Đạt Ma ra xem, trong quan tài chỉ còn chiếc dép, ngoài ra không có cái gì khác. Như vậy Tổ sư Đạt Ma đi đâu? Mọi người cũng không ai biết, sợ rằng hôm nay đã đến Mỹ quốc không biết chừng, vì Ngài có thể thiên biến vạn hóa, cho nên không ai có thể nhận ra được Ngài. Khi đến Trung Quốc, Ngài nói Ngài đã một trăm năm mươi tuổi, nhưng lúc Ngài ra đi vẫn là một trăm năm mươi tuổi, lịch sử cũng không có cách nào kiểm chứng.


 
lục tổ đàn kinh 3


Lúc Tổ sư Đạt Ma sắp viên tịch, Ngài nói:

–Ta đến Trung Quốc truyền pháp cho ba người, Đại sư Huệ Khả được phần tủy, Thiền sư Đạo Dục được phần xương, Tỳ kheo ni Đạo Tế (tức Tỳ kheo ni Tổng Trì) được phần thịt.

Tỳ kheo ni Đạo Tế thuộc lòng Kinh Pháp Hoa, sau khi viên tịch từ trong miệng nở ra đóa hoa sen màu xanh. Vì Tổ sư Đạt Ma đã đem thân thể của Ngài mà phân chia cho các người khác, cho nên ở Mỹ quốc quý vị không thể tìm ra được Ngài.

Nhị Tổ Huệ Khả, họ Cơ, tên Thần Quang, người thời Bắc Tề. Lúc Ngài giáng sanh, cha mẹ Ngài nhìn thấy Kim Giáp Thần Nhân, hộ pháp Vi Đà Bồ Tát, phóng đại hào quang bảo hộ vị Tổ Sư mới ra đời này, cho nên tên của Ngài gọi là Thần Quang. Ngài thiên tánh thông minh, trí nhớ rất dai, cho nên được người khen ngợi: Mục hạ thập hàng tự, nhĩ thính bách nhân âm. Không phải vừa nhìn là có thể xem được mười hàng chữ, mà là người thường xem một hàng chữ, thì Ngài có thể xem mười hàng chữ, rất nhanh như vậy; một trăm người cùng nói chuyện cùng một lúc, Ngài đều nghe rất rõ ràng, năng lực phân biệt rất nhạy.

Nhưng vị Tổ Sư này rất nóng tính, nói chuyện không hợp liền muốn đánh người. Bốn mươi năm về trước, ngay lúc giảng kinh thuyết pháp cũng mang xâu chuỗi bằng sắt để đi hành hiệp giúp người. Vì thế lúc gặp Tổ sư Đạt Ma đã dùng xâu chuỗi đánh Ngài Đạt Ma, kết quả phải quỳ chín năm, phải tự chặt đứt một cánh tay của mình. Quý vị nghĩ xem nếu không nóng tính như vậy làm sao có thể tự mình chặt đứt cánh tay, mà không cảm thấy đau nhức, đợi đến lúc đắc pháp xong mới cảm thấy nhức nhối. Điều này bởi vì Ngài rất nóng tính, nếu không nóng tính, chặt đứt cánh tay cũng không cảm thấy đau nhức. Đau nhức chính là phiền não…

Chân như tự tánh là chân Phật.
Tà kiến tam độc thật Ma vương.
Lúc tà mê Ma ở trong nhà,
Khi chánh kiến Phật ở trong nhà.
Trong tánh tà kiến tam độc sanh,
Tức là Ma vương đến trong nhà,
Chánh kiến tự trừ tâm tam độc,
Ma biến thành Phật thật không giả.
Pháp thân, Báo thân và Hóa thân,
Ba thân xưa nay là một thân.
Nếu nhằm trong tánh hay tự thấy,
Tức là nhân Bồ đề thành Phật.
Vốn từ Hóa thân sanh tánh tịnh,
Tánh tịnh thường ở trong Hóa thân.
Tánh khiến Hóa thân hành chánh đạo,
Khiến sau viên mãn thật không cùng.
Tánh dâm vốn là nhân tánh tịnh,
Trừ dâm tức là thân tánh tịnh.
Trong tánh mỗi tự lìa ngũ dục,
Thấy tánh sát-na tức là chân.
Đời này nếu gặp pháp Đốn giáo,
Chợt ngộ tự tánh thấy được Phật.
Nếu muốn tu hành mong làm Phật,
Không biết nơi nào nghĩ làm chân,
Nếu hay trong tâm tự thấy chân,
Có chân tức là nhân thành Phật.
Chẳng thấy tự tánh ngoài tìm Phật,
Khởi tâm thảy là người đại si.
Pháp môn Đốn giáo nay lưu truyền,
Cứu độ người đời phải tự tu.
Bảo ông, người học đạo đời sau:
Không khởi thấy này uổng luống tu."



Giảng:
Chân Phật là gì? Mọi người đều có cái Chân như tự tánh, nó còn gọi là Thực tướng, còn gọi là Như Lai Tàng, lại gọi là Phật tánh. Chân như chính là tự tánh của ông, tự tánh cũng chính là Chân như của ông, tự tánh Chân như cũng chính là chân Phật. Chân Phật ông đã nhận biết thì nên biết ma vương là cái gì, ma vương chính là tà kiến của ông, tam độc của ông. Mà tam độc cũng chính là tà kiến của ông, tà kiến cũng chính là tam độc của ông, có tà kiến, có tam độc, đó là ma vương, tam độc chính là tham sân si – tham tài, tham sắc, tham tất cả đều là tam độc. Giống như sau khi xuất gia, tham trước phan duyên, đi khắp nơi muốn có đệ tử, đây đều là tam độc. Như đạo trường này, ai quy y chính là tự mình phát tâm quy y, nếu không phát tâm cũng không miễn cưỡng. Nếu tôi kêu ông quy y tôi, ông hỏi: "Thầy có đủ tư cách làm thầy không? Thầy có đủ tư cách làm vị Thiện tri thức không?" Thế thì, tôi không có lời nào để nói.

Lúc có tà mê thì sanh ra vô minh, vừa có vô minh liền sanh ái dục, vừa có ái dục thì ma ở trong nhà ông. Ông có chánh kiến mà không có tâm tham, tâm sân, tâm si, không có tà tri tà kiến, dọn dẹp tâm mình thanh tịnh sạch sẽ, lúc đó Phật ở trong nhà.

Phật và ma đều do tự tánh ông hiển hiện, nếu tự tánh ông sanh tà kiến, thì sanh ra tham sân si tam độc. Nếu không tà kiến, tam độc sẽ không sanh khởi. Nếu sanh tam độc thì ma vương ở trong nhà của ông, nhà của ông cũng chính là thân của ông. Nếu có chánh kiến sẽ trừ đi tam độc. Lúc tâm không có tam độc, ma vương liền biến thành Lục Tổ, cái đạo lý này thì rất chân thực và chân thực nhất mà không hư giả, ông chỉ cần có chánh kiến đó là Phật, nếu ông chứa chấp tà kiến đó là ma. Thanh tịnh Pháp thân, Viên mãn Báo thân và Thiên bách ức Hóa thân, tuy nói là ba thân, nhưng ba thân này là do một thân của ông biến hóa mà ra, đây gọi ba là một, một mà ba, ba thân tức là một thân, một thân tức là ba thân.

Nếu trong tự tánh thấy được chân Phật của tự tánh, đó là hột giống sẽ thành Phật sau này. Ông có hột giống Bồ đề, tương lai nhất định sẽ trổ quả Bồ đề, trổ quả Bồ đề cũng chính là thành Phật. Tự tánh thanh tịnh của ông vốn từ Hóa thân của ông sanh xuất ra. Tự tánh thanh tịnh Pháp thân của ông cũng ở trong Hóa thân của ông. Tự tánh của chính ông có thể khiến Hóa thân ông thành chánh đạo, tương lai viên mãn Bồ đề tự tánh và viên mãn Báo thân cũng sẽ vô cùng vô tận.

Người có tâm dâm dục, nhưng không cần sợ, ông xem Hỏa Đầu Kim Cang trong Kinh Lăng Nghiêm, lòng dâm dục của ông ta vốn rất nặng, nhưng sau đó ông có thể dụng công phu biến lửa dâm dục thành lửa trí huệ mà làm Hỏa Đầu Kim Cang. Cho nên nói dâm dục vốn là nhân của tịnh tánh. Nếu ông có một niệm chánh, đó là nhân của tịnh tánh. Nếu ông chứa chấp một niệm tà thì sẽ không thanh tịnh, cho nên không phải đoạn trừ tánh dâm dục, mà biến dâm dục thành tịnh tánh. Dâm tánh vốn không thanh tịnh, nhưng cần biến nó thành tịnh tánh – chánh tri chánh kiến. Đấy mới là đúng! Cho nên nói: Tánh dâm tức là tịnh tánh thân, trừ dâm thì được Pháp thân thanh tịnh.

Ông ở trong tự tánh nên rời bỏ ngũ dục. Ngũ dục tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, có chỗ nói là tài, sắc, danh, thực, thùy. Năm dục này ông nên rời xa, trong tự tánh không khởi lên tà kiến, mọi lúc đều cần có chánh tri chánh kiến. Một khi rời bỏ ngũ dục thì ông sẽ kiến tánh ngay và sẽ đắc được Chân như diệu tánh. Chúng ta trong đời này gặp phải pháp môn đốn giáo – pháp môn Thiền tông, hốt nhiên khai ngộ, hiểu rõ Bổn tâm, kiến tự Bổn tánh, lúc này có thể tự mình thấy Thế Tôn và mười phương Chư Phật. Nếu ông muốn tu hành, muốn làm Phật, thì ông không nên truy cầu bên ngoài mà nên ở trong tự tánh dụng công phu. Bằng không, thì ông sẽ không biết đi đâu mà tìm chân Phật.

Nếu đi tìm Phật tánh chân chánh trong bổn tâm mình, thì có thể minh tâm kiến tánh, thấy được Chân như diệu tánh, đó là hột giống thành Phật. Còn như ông không hồi quang phản chiếu trở về tìm cầu nơi mình, chỉ truy cầu bên ngoài, sanh lên một niệm muốn tìm Phật bên ngoài thì đó là người ngu si nhất. Pháp môn đốn giáo thiền tông này nay tôi đã truyền hết cho các ông, người đời gặp pháp môn này cũng nên tự mình tu hành, không thể không tu hành a! Tôi nay vì các ông, là người học đạo mà giảng thuyết, nếu các ông không nghĩ như thế, thì bỏ phí thời gian, để thời giờ luống trôi như vậy, rốt cuộc không có lợi ích gì…


 
lục tổ đàn kinh 4



MỤC LỤC:

LƯỢC GIẢNG:
KINH LỤC TỔ PHÁP BẢO ĐÀN
PHẨM HÀNH DO ĐỆ NHẤT
PHẨM BÁT NHÃ ĐỆ NHỊ
PHẨM NGHI VẤN ĐỆ TAM
PHẨM ĐỊNH HUỆ ĐỆ TỨ
PHẨM TỌA THIỀN ĐỆ NGŨ
PHẨM SÁM HỐI ĐỆ LỤC
PHẨM CƠ DUYÊN ĐỆ THẤT
PHẨM ĐỐN TIỆM ĐỆ BÁT
PHẨM TUYÊN CHIẾU ĐỆ CỬU
PHẨM PHÓ CHÚC ĐỆ THẬP
MƯỜI TÁM ĐẠI NGUYỆN CỦA HÒA THƯỢNG TUYÊN HÓA


 
thông tin cuối bài viết
 
thông tin new 2
     

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây